Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2010

TRUYỆN KÝ : Phần 3

Viện B80 tỉnh đội Kon Tum
( Kỷ niệm những ngày điều trị vết thương tại BV Tỉnh đội Kon-Tum)

Bệnh viện nằm bên dãy núi đá trên một dông đất khá bằng phẳng. Những lán trại ở đây có vẻ hiện đại hơn bệnh xá của trung đoàn rất nhiều. Nhà làm trên mặt đất, cao ráo, vách nứa đan nong đôi vuông vức. Hai đầu hồi có hai cửa thông nhau, hành lang đi giữa, hai bên hai dẫy giường mỗi bên 6 chiếc là 12 người một nhà. Các ngôi nhà nằm im lìm trong một rừng cây cao bóng phía dưới đã được chặt hết cây con tạo thành mặt sân nhẵn nhụi. Lán nọ cách lán kia vài chục mét có hệ thống hầm hào từ trong nhà thông sang nhau và chạy ra sau rừng, nghe nói phía núi đá có con suối rất trong và một khu rừng hoang đầy hang động. Tôi được xếp vào lán bất động, toàn thương binh què và cụt không đi lại được. Từ đây đi về nhà khám và điều trị của bệnh viện khả xa, hình như đây là lán cuối cùng của cả khu.
Bác sỹ và nhân viên toàn người miền nam, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi..có cả. Chúng tôi không đi lại được nên không biết viện trưởng là ai, kể cả các bác sỹ khám và cho thuốc, chỉ còn nhớ vài nhân viên trực tiếp điều trị của mình mà thôi.
Chị Liên Ytá, hộ lý gầy gò lúc ấy khoảng 27 tuổi, chưa chồng, người Quảng Nam. Cái tỉnh mà khi phát âm ra ngữ Việt thì chữ nam thành Quảng Nơm-Quảng Ngở. Một con người khắc khổ, hiến trọn tuổi thanh xuân cho Cách mạng. Chị đã quá lứa và yêu ai ở cái nơi khỉ ho cò gáy, đàn ông thì già mà đàn bà lại quá nhiều này. Chị tần tảo chiều chuộng cung phụng thương binh bao nhiêu thì chúng tôi quý mến chị gấp bấy nhiêu lần và ngay cả những khi ngồi viết lại những dòng chữ này.
Hàng ngày chị mang cơm, tiếp nước cho cả lán, thay băng, giặt giũ cho những thương binh nặng, thôi thì hầm bà làng trăm công việc. Cái quý nhất là chị luôn yêu đời và không cáu gắt với ai bao giờ.
Trong lán có thương binh Nếnh người Nghệ An- Tiểu đoàn trưởng bộ đội địa phương Kon Tum, gãy hai đùi và một cẳng chân, bó bột trắng xoá. Lúc ấy khoảng ngoài 30 tuổi anh có vẻ thích chị Liên và cũng nhận được tình cảm trìu mến của chị.Thế là chúng tôi cứ hún vào:� Chị Liên- Anh Nếnh gọi hoặc: Anh nhờ chị thay quần áo kìa!..
Suốt ngày nằm rồi ngồi, loanh quanh trên giường chán quá thế là chúng tôi hát, đồng ca rồi đơn ca, người nọ kích động ngưòi kia, ai cũng hát. Hát hay nhất là tôi và một chiến sỹ đội Văn nghệ xung kích tỉnh đội Kon Tum bị thương mất một hòn cà. Anh ta kể: Tôi đang cầm súng lom khom thì thằng Cán Gáo ào đến quăng lựu đạn. Mảnh US bay giữa hai bẹn cắt luôn một bên, tôi nhìn xuống thấy hòn cà nằm còng keo dưới đất vẫn còn lòng thòng sợi dây buông xuống, tôi nhặt lên, nhét vào và băng lại.Về đến đây bác sỹ hội chẩn và bảo: Cắt cho nó an toàn, một hòn vẫn còn đẻ tốt !khéo mắn quá lại không nuôi hết! Mỗi khi thấy chúng tôi ca nhạc, chị Liên lại thập thò mang nước lên lán: Chị Liên ơi, vào nghe anh Nếnh hát! Anh Nếnh đỏ mặt: Ði đi, không được vào!
Sau 10 ngày từ khi tôi bị thương, ngày 24 tháng 4 năm 1972 thì giải phóng Tân Cảnh, 4 ngày sau, thương binh lũ lượt từ mặt trận đổ về. Ðủ loại đui mù, què cụt, cháy xém. Mỗi giường xếp hai người, trừ trường hợp quá nặng. Có một chiến sỹ xe tăng nghe đâu bị bom đánh cháy. Anh ta lợt lạt khắp người, cởi trần như nhộng, ngón tay dính vào nhau như chân vịt, nước chảy nhớp nhúa, vừa tanh, vừa khẳn. Người ta hơ lá chuối rừng làm chiếu, hàng đàn ruồi bu quanh màn, đen như dán đỗ.
Sơn người (Bản nguyên- Lâm Thao �Phú Thọ) bị thương vào mông và mu bàn chân khi đánh vào Tân Cảnh. Vết thương nhiễm trùng bị dòi đẻ, mổ moi ra hàng bát. Hôm nay lại bị dòi rúc, kêu la nhờ tôi xuống báo cho phòng thường trực. Khi bị dòi đẻ, vết thương thối khủng khiếp, Sơn lại ngồi đầu cửa hướng gió, thốc vào lán, khẳn lằm lặm. Anh em trong lán bảo: Thằng Hậu ra nằm thay chỗ thằng Sơn không thì chết ngạt hết bây giờ!
Tôi chống gậy xuống báo cho bác sỹ trực, Sơn đau quá không chờ nữa, bò bốn chân xuống phòng mổ, vừa bò vừa khóc, tôi chống gậy theo sau. Ðến chiều người bác sỹ cõng lên Sơn lán và bảo: Anh này nhát như mèo! Lần sau còn để ruồi nó đẻ thì chúng tôi cắt chân luôn!
Sơn vội lấy túi bơi Trung Quốc đút chân vào đó, thấy con ruồi nào bay đến anh ta vỗ cho bằng chết!
Bệnh viện tăng cường thêm một nữ bác sỹ ngoài Bắc vào, chưa chồng. Nhìn qua vẫn còn phảng phất cái nét một thời vàng son của người con gái. Bây giờ Tầm tuổi đã ngoài 30 rồi, không rõ do điều động hay chị xung phong vào chiến trường này. Tưởng đồng hương Miền Bắc chị ta quan tâm hơn, thế nhưng bà này hắc xì dầu lắm, quát tháo liên tục: Còn cái cậu này nữa, đã bảo đi được thì xuống phòng khám thay băng cho vệ sinh, không sợ nhiễm trùng à! Một lần tôi bảo: Chị xem vết thương của em có miếng thịt mọc thừa ra như cái lưỡi đây này! Chị ta cởi băng ra xem, ghé luôn chiếc kéo giáp mặt đùi và cắt xập một cái, máu tràn ra: Ðể cho nó đẹp, sau này ra Bắc con gái khỏi chê! Và bây giờ xem lại , vết thương ngày ấy cũng phẳng phiu lắm!
Thương binh về đã kín các lán trại, không biết có bao nhiêu lán bất động, nghe chị Liên nói cũng khá nhiều thương binh nặng.Vấn đề đặt ra cho bệnh viện là: Lấy cái gì cho thương binh ăn? Không còn hạt gạo nào cả, nếu có huy động toàn dân khu vực này thì trong dân cũng đang giáp hạt, không có gạo. Tỉnh can thiệp bằng cách: Tất cả vì tiền tuyến, ai có gạo đem gạo, ai có mỳ giúp mì�Ngày nào cũng lũ lượt đồng bào gùi hạt Bom Bo cho bệnh viện. Chúng tôi ăn hạt Bom Bo thay cơm.
 Ðói thì đầu gối phải bò, các lán thương binh nhẹ thay nhau ra nương dân (cải thiện), có cái gì ăn được là họ tha về. Có hôm bệnh viện bắt thu hồi hàng ôm mía tím, họ đem cho lán thương binh nặng ăn: Ðàng nào thì lán thương binh nhẹ cũng đã vi phạm chính sách dân vận rồi, các đồng chí ăn đi!
Chị Liên kể: Hổm rày bệnh viện có đàn lợn hơn chục con, mổi con chừng 7-8 ký, mấy ổng này lừa bắt thịt ráo chọi luôn, còn hai con chết hụt ngơ ngơ ngác ngác!
Mấy hôm sau nghe Nguyễn Xuân Viện- Cùng quê (Tứ Xã-Lâm Thao-Phú Thọ) cùng nhập ngũ- Bị thương vào phần mềm ở trận đánh ven Tân Cảnh sang lán kể: Ðói! rau xanh không, thịt không, đi ra nương vặt rau tàu bay càng sốt ruột. Chúng nó nghĩ ra mẹo bắt lợn thịt: Lấy cơm Bom Bo rắc trong lán dử lợn con vào, hai thằng ngoài cửa cầm sẵn võng, trong thì đuổi, bên ngoài chỉ việc nâng võng lên, túm lại là hết éc. Hai thằng, một ăng gô, một dao găm ra sau rừng là có đủ luôn cả lòng sốt đem chia cho cả lán. Mỗi hôm một con cho đến khi bị phát hiện.
 Hơn một tháng không được tắm giặt, người vừa hôi, vừa mốc, ngứa ngáy rất khó chịu. Một hôm tôi đang nằm thấy như con gì rơi buồn buồn trong bụng, lật áo lên, rùng hết cảngười: Rận!
Hàng đàn Rận trắng nhởn, mũm mĩm chậm chạp di chuyển theo các kẽ vải, Rận đông đúc, hành quân xếp hàng trong các lớp băng vết thương. Cả lán rộn cả lên: Bắt Rận, anh nào cũng lột quần áo ra, vừa bắt, vừa giết.
 Ngoài mặt trận đưa tin về: Ta giải phóng xong Ðắk Tô-Tân Cảnh, lấy nốt Diên Bình-Võ Ðịnh và hiện nay đang áp sát Kon Tum. Chúng tôi dù ăn đói nhưng cũng thấy ấm bụng hẳn lên.
 Ðánh lớn như vậy, đơn vị tôi ai còn, ai mất, bất giác tôi thấy nôn nao trong người.
Tôi đã đi lại được,Viện đưa tôi ra suối tắm giặt. Rất lâu mới lại được sống giữa thiên nhiên như thế này. Phía sau lán, dãy núi đá sừng sững, tím biếc trong chiều tà, khu rừng hoang sơ im lìm trong áng chiều bảng lảng. Phía đó là bao nhiêu hang động, bao nhiêu cây rừng và những con chồn hoang, thú dữ. Một con thác như mành tơ buông trắng xoá phía thượng nguồn, nước trong suốt, mát lạnh nổi gai gà: Ðáng ra mình đi tắm từ trưa có phải đỡ lạnh hơn không!
Vài hôm nữa Viện trở về đơn vị, chúng tôi liên hoan, chia tay nhau bằng cách: Hai thằng đi ra nương lấy rau tàu bay và hái nấm. Một bãi rẫy của dân cách không xa bệnh viện là bao, những cây cổ thụ bị đốn gục bằng dao quắm, có cây dài đến vài chục mét. ở đó mục nhĩ (Nấm mèo) mọc chi chít từ gốc đến ngọn. Ðất tơi xốp, ẩm mục cho các loại rau đua nhau mọc, ngọn tàu bay mập to như ngón tay người. Ðầy hai gùi, chúng tôi hăm hở về lán.
 -Chị Liên đâu? Cho anh Nếnh mượn chiếc ấm đun nước!
 -Âm để làm chi zậy! Hổng có nước thì tôi lấy cho, việc gì phải đun!?
 -Nước của các bà chưa sôi..
 -Sao lại chưa sôi..
 -Thì cứ đưa ấm lại đây, mặc xác chúng tôi!
 Cho rau tàu bay vào ấm- Luộc! Vớt ra đưa vào cái chậu nhựa thường lấy cơm, đút vào chăn hai người ngồi trên giường, chùm lên - Lại luộc! Hết rau tàu bay đến mục nhĩ, có ai đấy bảo: Thôi chết rồi, bà Liên đến!
 Chị Liên vào lán, bà này biết chắc chúng tôi có cái gì đấy, lúng ta lúng túng, khói lại tự nhiên từ trong chăn ông Nếnh bay ra.
 -Kìa, nước sôi rồi kìa!
 -Cứ để cho nó chín kỹ..Thế chị Liên hôm nay không phải làm gì à!
 -Hông!
Bà ta ngồi xuống cạnh bếp, chả lẽ để cho rau chín nhừ thành cao! Tôi đành nói thật và nhờ chị xin thêm ít muối.
-Biết rồi! Làm kheo khéo nghe - Hổng bà bác sỹ biết là mệt cho tụi tôi lắm !
Gần 3 tháng nằm viện, có quân lực trung đoàn đến đón về đơn vị.Tôi được ra viện. Hôm chia tay, thấy chị Liên rơm rớm nước mắt : Anh Hậu đi may mắn và mạnh giỏi nghe!
Kết thúc những ngày điều trị vết thương ở bệnh viện tỉnh đội Kon Tum.
------------------------------------------------------------------
 Lâm Thao tháng 08 Năm 2007



Hoàng Kim Hậu
ÐT:0210.785.060
DD:0934.441.239
-------------------------------------------------------------------------------
Trở về Trung đoàn
Chúng tôi có hơn 10 người cùng đơn vị được ra viện. Nói của đáng tội: Toàn quân sứt sẹo cả, kẻ băng đầu, người băng tay bước thấp bước cao khập khiễng ngang quân thất trận.
Tôi nhìn bên ngoài còn lành lặn hơn cả: Các vết thương đều ở kín trong người, sau hai tháng nằm viện lại trắng trẻo, béo ra như tân binh.Thế nhưng đi khoảng vài tiếng đồng hồ, lên thác, xuống khe, cơ bắp vận động, hai chân bắt đầu trở trứng: Vết thương mảnh còn ngập sâu trong đùi sưng tấy lên, cơ đùi co giật tê buốt. Hai vết thương xuyên mặt trong hai đùi mới lên da non cọ sát vào quần tấy đỏ như phải bỏng. Gần trưa, cái nắng càng oi nồng, mồ hôi túa ra sót như tra muối, vừa đi, vừa nghỉ.
Ðến một khe nước chảy ven đường, có ai đó cắm một ống nứa đón mạch nước từ trên vách đá, nước chảy tong tỏng, mát lạnh. Chúng tôi dừng lại ăn cơm trưa.
Xung quanh rừng cây um tùm, gió từ dưới thung lũng ào qua mát lạnh. Ðứng trên bờ khe nhìn xuôi con suối, xa tít tắp chỉ thấy núi rừng xanh biếc, nhấp nhô như vô tận.Tỉnh lỵ kiểu gì mà trập trùng ngang trường sơn, không biết bao giờ mới đến đồng bằng đây.
Nghe người sỹ quan quân lực nói: Nếu đi nhanh thì hơn một ngày là đến thị trấn Tân cảnh. Còn dọ dẹo như chúng tôi cầm chắc hai ngày mới ra đến cầu Ðak Mót. Từ đấy đi về toàn đường nhựa và đường đá, địa hình trống trải, máy bay rà sát suốt ngày, nếu ra đấy vào buổi chiều mà hành quân đêm là hay nhất.
Tôi cởi phăng quần dài cho đỡ vướng, dùng hai cuộn băng bó chặt vết thương bên đùi cho khỏi rát, chúng tôi lại tiếp tục lên đường.
Khoảng hơn một tiếng, có một con đường cắt ngang, một thanh nứa người ta vạt nhọn đầu kẹp vào thân cây ven đường ở đó kẻ chữ : K 4A. Chúng tôi rẽ vào. Ði khoảng 20 phút thì đến kho gạo, mỗi người nhận 6Kg rồi tấp tả quay ra. Ơ đây rừng có vẻ bằng phẳng hơn, phía xa không thấy núi chắn trước mặt, nghe nói cũng xắp ra đến bờ sông Pô Cô rồi, chúng tôi dừng lại nấu cơm. Mắc võng tòng teng ven suối chẳng hầm hố gì cả, xa xa có tiếng máy bay vọng lại, hình như vẫn đang đánh nhau ở ven thị xã Kon Tum.
Sáng hôm sau lại cơm nắm lên đường, thỉnh thoảng đã thấy có mấy đơn vị chuyển quân qua, một vài đoàn đi về kho lấy gạo, không gặp ai quen mà hỏi thăm cả.
Qúa trưa ra đến bờ sông, đại đội công binh đang bắc cầu treo qua sông. Bốn sợi cáp đã được kéo căng từ gốc cây bờ bên này sang lùm cây bờ bên kia, tán cây xoè ra hai bên sông không đủ che kín cho đoạn cáp ở giữa dòng.Tôi nghĩ bụng: Thế này khi cầu làm xong thì nguỵ trang kiểu gì để che mắt thằng VO10 được đây. Qua sông bằng một mảng nứa kéo tay, có ai đấy bảo: Trên bờ chú ý thằng VO10 đấy, có gì thì gọi to lên! Ðến bờ, chúng tôi đi một đoạn rồi ra đường 18, cả đoàn nghỉ lại ăn cơm trưa.
Con đường giải nhựa đã bong vẩy, đá lởm chởm, chỉ cách đây có vài tháng thôi, nó là mạch máu giao thông huyết mạch của địch ầm ầm xe tải và xe nhà binh, hôm nay vắng lặng phơi mình dưới nắng. Phía đông, một khoảng trời rộng mở, những sườn đồi thoai thoải bám theo con lộ, thấp thoáng đã thấy những bản làng nhà tôn sáng lấp loá ẩn hiện trong vườn cây ăn quả.Gió từ phía đông mên man bò theo sườn dốc rồi ào xuống thung lũng mát lạnh. Ðã lâu lắm rồi chúng tôi mới được phóng tầm mắt xa đến như vậy, một vùng giải phóng rộng lớn mà biết bao nhiêu đồng chí của tôi đã ngã xuống mới giành lại được.
Mỗi người vác một cành cây trên vai, vừa che nắng vừa nguỵ trang. Chúng tôi hàng một bám theo ven đường hành quân. Ðang quen leo đèo, lội suối nay đi toàn đường bằng thấy gan bàn chân như căng ra, bắp chân mỏi dừ thế mới lạ.
Sau lưng chúng tôi là căn cứ PLâyCần lọt giữa vùng giải phóng. Hình như nó cũng biết thân phận cá nằm trên thớt của mình nên không dám quăng pháo vô tội vạ như trước nữa, con đường tiếp tế cho chúng chỉ còn dựa vào hàng không mà thôi.
Có tiếng VO10 bay đến, chúng tôi tạt vào ven đường. Chiếc máy bay nghiêng ngó dọc bờ sông rồi bay về phía quận lỵ.
Ðến một bản ven đường cách Ðak tô 2 (Sân bay Phượng Hoàng) không xa, chiếc VO10 quay lại, nó chổng mông bắn đạn khói, hai chiếc A37 từ đâu ào đến quăng bom xuống bãi gỗ cạnh sân bay. Khói cuồn cuộn bốc lên, những thân cây bị bom văng quay mấy vòng trên trời, đất đá tung lên mù mịt. Chúng tôi chui vào một ngôi nhà sơn toàn màu đỏ( Sau này đặt tên là Bản đỏ) đứng xem máy bay địch hùng hổ thừa bom đạn. Có đơn vị nào ở đấy mà chúng nó đánh dữ thế không biết, thôi tốt nhất là dừng lại nấu cơm, tối đến hành quân đêm cho mát.
Ban đêm trời mùa mưa mây bảng lảng, thỉnh thoảng còn sót lại vài ngôi sao trôi vật vờ rồi chìm vào khoảng đen sâu thẳm. Gió lành lạnh thổi ngược đường, phía thị trấn Tân cảnh tối mịt mùng không thấy ánh điện đâu cả.
Qua bãi gỗ, đất đá văng ra khắp đường, mùi khét của khói bom, mùi gỗ mục xen lẫn mùi cao su cháy dở nhắc người ta trở về với hiện hữu: Chiến tranh đã ở ngay trước mặt.
Dọc đường 18 quang tinh trập trùng, chỗ đen, chỗ trắng, hai bên đường trống trơ không thấy có cây cối nào cả. Qua căn cứ 42- Chỉ huy sở của sư đoàn 22 nguỵ-Tôi nhận ra nó giống y như xa bàn cát đã học. Hướng cửa mở của K8 là đây: Vượt qua bãi lầy, đào hầm sát chân đường, tiền nhập qua mặt đường 18, giáp tà luy là hàng rào đầu tiên của căn cứ.
Lớp hàng rào bùng nhùng bị phá bung ra thành lối vào cửa mở. Phía trong kia, hàng lô cốt đầu cầu bị đánh xụp thành những đống đen sì, thảm hại. Giáp cửa mở một tháp nước đổ ụp, nằm chông chênh, hai cột bị bẻ cong xuống và hai cột còn lại như� hai bàn tay của chúa chọc lên trời.
Không biết bao nhiêu đồng đội của tôi hy sinh trên cửa mở này, nghe nói C6 đánh qua cửa mở là bị thương và hy sinh gần hết. Anh Hậu đại đội trưởng cùng hai chiến sỹ hy sinh trong cùng một hố pháo dưới chân tháp nước kia. Tôi nhìn lướt qua, rồi đi xuôi theo con dốc, qua cầu cùng đoàn người tiến vào thị trấn Tân Cảnh.
Ðêm hôm ấy, chúng tôi ghé vào một ngôi nhà không chủ nghỉ tạm. Sáng hôm sau, đi tham quan một vòng thị trấn, một vài pho tượng Ðức Bà bị bắn vỡ đầu. Phía ngoài thị trấn, một qủa bom ném trúng mặt đường 14, hơi nổ cày lên từng mảng bê tông nhựa to bằng tấm phản, mảnh bom cào sước mặt đường thành những vệt loang lổ. Quá trưa thầy trò lục tục chui vào rừng đi về trung đoàn bộ.
Trung đoàn nằm trong một cánh rừng phía sau thị trấn Tân Cảnh. Sau giải phóng, địch cay cú đổ quân, tung biệt kích thám báo hô hào tái chiếm Ðak Tô-Tân Cảnh. Chỉ cần nghi ngờ cánh rừng nào là bom dội xuống, B52 trà đi sát lại như muốn huỷ diệt toàn bộ những gì còn sót lại trong rừng. Bởi thế ở đây hầm hố đã được sửa sang lại, hầm thùng đào sâu xuống đất, phía trên lợp bằng cỏ gianh hoặc máng vầu, bên cạnh là một cửa thông vào hầm chữ A chắc chắn.
Thấy đoàn thu dung vạ vật trước hầm quân lực chờ phân bổ về các đơn vị. Một người dáng gầy còm đến hỏi tôi:
-Này, mới ở bệnh viện về à! Cậu quê ở đâu!
-Em ở Lâm Thao � Phú Thọ.
-Thế tớ cũng ở Lâm Thao - Ơ Tiên Kiên đây!Vào chỗ tớ uống nước đã!
Tôi khoác ba lô theo anh vào một căn hầm cách đấy khoản 10 m. Qua câu chuyện tôi biết anh vào chiến trường từ năm 67, hiện nay là y sỹ của trung đoàn bộ, anh bảo tôi:
-Trung đoàn chuẩn bị mở một lớp y tá tại C 21 quân y. Theo anh, trắng trẻo đẹp trai như cậu cứ theo học ở trên này một thời gian, ra trường có gì anh xin ở lại trung đoàn hoặc làm y tá các tiểu đoàn cũng đỡ ác liệt hơn, nếu nhất trí anh báo quân lực rồi ở đây luôn với anh!
Nghe anh nói tiểu đoàn 8 nhất là C6 thương vong gần hết, sau đánh Tân Cảnh, Kỳ được phong lên làm tiểu đội trưởng, đánh quân biệt kích đổ bộ xuống Ðak Tô, Kỳ dẫn đầu tiểu đội bám địch không may bị mìn hy sinh gần hết tiểu đội. Số lính cũ hầu như không còn người nào, bây giờ về đơn vị chỉ toàn là quân mới bổ xung mà thôi!
�Thấy thế, tôi đã nản lòng và nghe anh ở lại trung đoàn bộ.
�Những ngày ở trung đoàn chờ� quân số các đơn vị gửi lên, tôi quay về thăm tiểu đoàn 8.
Ðơn vị đóng quân phía ngoài vị trí tập kết cũ, trong một cánh rừng sơ sác vì B52. Gặp lại mấy sỹ quan quân lực và sỹ quan hậu cần, tôi hỏi về trận Ðak tô - Tân cảnh. Anh ta kể:
Sau khi tôi bị thương, địch tiếp tục đổ quân và nống ra ven thị trấn hòng phát hiện lực lượng chủ lực của ta và chiếm lĩnh các cao điểm. Các đơn vị phải tổ chức đánh vét chúng xuống để lấy vị trí tập kết cho pháo binh chiếm lĩnh trận địa.
15 giờ ngày 21-4-72 mở màn chiến dịch giải phóng Ðak Tô - Tân Cảnh. Pháo binh và tên lửa B72 của ta khai hoả bắn phá chỉ huy sở sư đoàn 22 và các căn cứ xung quanh Tân Cảnh.
Ðêm 23 �4 �1972 một tổ thông tin gồm: đ/c Ðệ� tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn thông tin, đ/c Bản� đại đội phó đại đội 16 cùng Phùng Văn Tích chiến sỹ thông tin PRC 25 và 4 trinh sát cắt rừng ra ven quận lỵ ÐakTô đón xe tăng của ta. Ðoàn người đi trong ánh đèn dù của máy bay C130 và pháo sáng từ căn cứ địch bắn lên. họ phải tránh các đồn bốt của địch chốt ven đường, áp sát đường 14 chờ xe tăng của ta. Ban đêm cờ giải phóng cắm trên xe rất khó nhận diện, sợ nhầm phải xe tăng địch. Theo hợp đồng: xe tăng của ta nòng pháo được buộc thêm một bó nứa. Khoảng gần 21 giờ có 9 chiếc xe từ phía ngầm Pô Cô hạ đi lên. Mấy điểm chốt của địch ven quận lỵ bắn ra như vãi đạn. Biết chắc là xe tăng của ta, họ leo lên đường 14 chạy bộ đuổi theo. Hình như đại đội thiết giáp nhận hợp đồng có quân ta đón ở khu vực này, họ phát hiện có người đuổi theo và dừng lại. Hai bên gặp nhau và nhận lệnh: Từ giờ phút này đại đội thiết giáp gặp bất kỳ ổ đề kháng nào của địch đều có quyền tiêu diệt. Cứ theo trục đường 14 này� 03 giờ sáng ngày 24 � 04 - 1972 phải vào đến thị trấn Tân Cảnh kết hợp cùng K9 và các đơn vị phối thuộc giải phóng thị trấn, sau đó một bộ phận theo hướng cửa mở K7, số còn lại theo cửa mở K8 đánh chiếm sư đoàn 22 nguỵ và tiếp cận đánh Ðak Tô2 và sân bay Phượng Hoàng.
04 giờ sáng ngày 24- 4 -1972 xe tăng của ta cùng K9 giải phóng thị trấn Tân Cảnh.
Phía cửa� mở K8 � Do tiểu đoàn trưởng Bùi Thanh Hiêm chỉ huy cho bộ đội tiền nhập áp sát đường 18 từ 21 giờ tối ngày 23- 04. Bộ phận dò gỡ mìn, cắt rào, gá bộc phá đã hoàn tất trước 5 giờ sáng. Ðúng 05 giờ 10 phút ngày 24 � 04 - 1972 pháo binh ta trút bão lửa xuống căn cứ 42 � Chỉ huy sở sư đoàn 22 nguỵ.
Mìn phá rào đồng loạt nổ, cửa mở được khai thông, xe tăng cùng bộ đội ào ạt tiến vào cửa mở. Ðịch điên cuồng phản kích, pháo ta, đạn địch mù mịt, bộ đội theo sát xe tăng tiến công. Ðịch cho xe tăng M48 cùng bộ binh ra bịt cửa mở, nhiều chiến sỹ K8 đã hy sinh.
Chiếc xe tăng đi đầu nòng pháo vướng vào hàng rào bùng nhùng phải lùi lại, đạn địch bắn ra như mưa, nhiều chiến sỹ nằm sát xe tăng không quan sát bị xe tăng chèn phải, có người chui từ gầm xe tăng chui ra.Tiểu đoàn trưởng Bùi Thanh Hiêm và đại đội trưởng Hậu cầm súng ngắn chạy lên , chạy xuống đôn đốc bộ đội nhanh chóng chiếm lĩnh cửa mở.Có chiến sỹ ôm bộc phá 5 Kg đánh lô cốt đầu cầu và hy sinh trong tư thế oanh liệt: Người và bộc phá áp sát lô cốt, tay cầm điểm hoả, anh dựa vào tường thành, những bao cát tung ra phủ lên đầu, lên cổ.
Không ai lường được trên tháp nước có một trung đội địch chiếm giữ, ÐKZ, súng phóng lựu và đại liên bắn ra như mưa. Ðại đội trưởng Hậu cùng một chiến sỹ B40, một chiến sỹ AK tiến đến chân tháp nước thì hy sinh trong cùng một hố pháo. Xe tăng địch phản kích đều bị tên lửa B72 của ta tiêu diệt, khi phát hiện trên tháp nước có địch, xe tăng ngóc nòng pháo bắn hai quả đạn xuyên thủng, nước trên tháp chảy ồ ồ xuống đất. Ðến khi tên lửa B72 bắn trúng, tháp nước đổ gục, toàn bộ quân địch bị tiêu diệt, bộ đội ta ào ạt tiến vào cửa mở.
Ðại đội 6 sau khi chiếm lĩnh được khu vực đầu cầu chỉ còn lại không đầy 10 tay súng. Luận ( Bảo Thanh-Phù Ninh) hy sinh trong lô cốt đầu cầu, một số bộ đội bị thương tự bò ra hoặc được vận tải cáng ra ngoài. Ðại đội 5 và đại đội 7 chia làm hai gọng kìm đánh thọc vào khu trung tâm. Ðịch điên cuồng ném bom và bắn pháo bừa bãi xuống cửa mở.
Phía cửa� mở K7 càng ác liệt, đến giờ hợp đồng tác chiến, xe tăng của ta chưa vào đến cửa mở. Lệnh nổ súng, bộc phá điểm hoả mở cửa không hết, còn một hàng rào trong cùng. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Vượng lệnh cho bộ đội ôm bộc phá đánh công kiên. Xe tăng và đại liên trong lô cốt của địch quét dọc cửa mở, bộ đội chưa ôm bộc phá đến nơi đã thương vong, tình thế vô cùng căng thẳng.
Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Vượng xin trung đoàn chi viện hoả lực tiêu diệt xe tăng địch và khu vực lô cốt đầu cầu. Anh xông xáo cùng bộ đội đặc công đoàn 37 đánh cường tập, phá hàng rào, thông cửa mở và đánh chiếm lô cốt đầu cầu. Ðược hai xe tăng ta kịp thời chi viện, trung đội trưởng đại đội 2 Ðỗ Văn Sử (Việt Trì-Phú Thọ) cùng tiểu đoàn trưởng Vượng ( Lúc đó đã bị thương) chia làm hai mũi dẫn bộ đội đánh chiếm khu trung tâm, bắt liên lạc với K8 và các đơn vị bạn trong căn cứ.
11 giờ trưa ngày 24 tháng 04 năm 1972 lá cờ giải phóng đã tung bay trên căn cứ 42- Chỉ huy sở Sư đoàn 22 nguỵ. Ðại tá Lê Ðức Ðạt - Sư đoàn trưởng và cố vấn Mỹ bị tiêu diệt. Sư đoàn phó Vi Văn Bình cùng toàn bộ 429 sỹ quan, binh lính bị bắt làm tù binh.
Trong chiến dịch Ðăk Tô - Tân Cảnh, trung đoàn bổ sung thêm quân số( Ðoàn Hoà Bình �Vĩnh Phú � Hoàng Liên Sơn). Sau chiến thắng, ta củng cố lại lực lượng, bao vây và giải phóng nốt cứ điểm PlâyCần. Nhưng do không nắm chắc địa hình và lực lượng của địch trong cụm cứ điểm này. Phía ta có tư tưởng tự mãn,� chủ quan khinh địch nên trận Plây Cần bị thất bại, tổn thất rất lớn. Ðó là bài học đắt giá mà trung đoàn phải rút kinh nghiệm. Trong trận này: Nguyễn Văn Tịnh,� nhập ngũ một ngày với tôi,� Bường và� Ngôn cùng quê (Ðoàn Vĩnh Phú mới bổ xung) đã hy sinh tại đây.
-----------------------------------------------------------------------
Ngày 17 Tháng 08 Năm 2007



Hoàng Kim Hậu



Lớp y tá trung đoàn
Tặng cán bộ học viên bệnh xá trung đoàn 66 �Sư đoàn 10 � QÐ 3.

Lớp y tá gồm 25 người được gửi từ các đơn vị trong trung đoàn lên. Lớp học khai trương bên cánh rừng thưa cạnh một con suối khá dốc, phía trên chúng tôi là nơi ở của nhân viên, bên kia là khu điều trị thương bệnh binh trong bệnh xá.
Chúng tôi chia ra 4 người ở trong� một nhà hầm lợp bằng máng vầu, hai người một giường, ở giữa là chiếc bàn uống nước. Bên này tôi và Giáp còn giường bên kia là Kế với Hà (Cùng nhập ngũ � Cùng quê Lâm Thao)
Ðêm đầu tiên trong căn nhà mới không có gì để liên hoan, chúng tôi ra cạnh rừng bẻ vội mấy ngọn măng về ca cóng. Cũng định nấu đến sáng mai lấy cơm về ăn thêm. Nhưng khi nồi măng vừa chín, cái đói cồn cào, người này nếm thử, kẻ kia ăn theo, nồi măng vừa đắng vừa he mà nhoàng một cái đã hết sạch.
Lớp học lợp bằng phên nứa, bàn ghế là những chiếc cột chôn xuống đất, ghế buộc bằng thân vầu bổ đôi. Còn bàn thì tuỳ theo học viên tự tìm kiếm : Người mảnh gỗ, kẻ kiếm được mặt bàn lấy từ ngoài thị trấn đem về, kê lên nhìn đến là hay.
Y sỹ Trịnh Minh Tước- quê ở (Thanh Sơn- PT) được phân làm chủ nhiệm lớp, lúc ấy anh khoảng 23 tuổi. Ðó là một anh chàng� hay khôi hài, nắm chắc nghiệp vụ và rất có năng khiếu sư phạm. Thân hình to béo nên chúng tôi vẫn bảo: Ông này mà bị thương thì chắc nằm lại sau cùng, thằng nào cũng tranh nhau chọn thương binh bé nhất để cáng! Anh Tước cười: Bởi thế cho nên tao không bao giờ bị thương cả! Thời gian này, lớp y tá học cả sáng và chiều. Một hôm tôi bảo anh Dao- y sỹ-giáo viên dạy khoa ngoại:
-Ðại đội em chúng nó chôn rất nhiều hộp trong hầm, có đứa bị thương không quay lại lấy được, hai anh em đi về đấy tìm đi!
Nghỉ trưa, chúng tôi cầm súng sách gùi cắt rừng về khu vực tập kết của K8. Qua những khu rừng bị bom đánh cây đổ ngả nghiêng, những hố bom cỏ đang lên xanh mơn mởn, lần đến hầm của đại đội tôi ở.
Lúi húi bới tìm, gần chục hầm mới thấy 4-5 hộp, toát cả mồ hôi, chúng tôi ngán ngẩm quay ra.
Ðến một cánh rừng, qua khoảng trống thấy một chá Sơn Dương (To bằng bê con) đang ung dung gặm cỏ. Anh Dao vội đưa súng lên bóp cò. Con hoãng nhảy dựng lên rồi lồm nhồm lao vào rừng để lại những vệt máu loang lổ. Tiếc quá, tý nữa thì được bữa thịt cho đội phẫu ngon lành!
Ngoài những giờ lên lớp, cứ mỗi tháng chúng tôi phải từ hai đến ba lần đi qua thị trấn Tân Cảnh, về cầu Ðăk Mót lấy gạo. Một phần cho chúng tôi và nhân viên trong bệnh xá, một phần phục vụ các bệnh nhân đang điều trị.
Sau thất bại Ðak Tô Tân Cảnh, địch co cụm củng cố và tăng cường các vị trí phòng thủ nhất là ven thị xã Kon Tum.
Phía ta, đang giữa mùa mưa, mọi hoạt động tiến công tạm dừng lại. Các đơn vị ổn định tổ chức, học tập chính trị, bổ xung quân số và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng. Ðường hành lang từ hậu cứ ra phía trước đã được thông thoáng, gạo đạn và các nhu yếu phẩm cho bộ đội tương đối đầy đủ. Chúng tôi không bị đói như đầu năm 1972, có hôm đi lấy gạo, mỗi hầm để lại cả bao gạo để nấu dần mà cũng không ai buồn ca cóng.
Một đêm trời mưa rất to, con suối sau nhà nước chảy như thác, ngày mai đi lấy gạo rồi, thấy trời mưa, ai cũng ngán. Bỗng có con gì nhảy lạch tạch trên giường, tôi vùng dậy:
- Giáp kìa � Rắn rết- rắn rết!
Chúng tôi vùng dậy lấy đèn soi thì không phải, một con giun gần bằng ngón tay, đỏ quạch dãy dụa trên giường. Mẹ kiếp, giun lại muốn ngủ cùng với người!� Ngày mai đi lấy gạo có điềm gở gì đây!
Sáng hôm sau chúng tôi khoác gùi đi lấy gạo. Qua thị trấn Tân Cảnh đi về phía cầu treo Ðak Mót. Chiếc cầu bắc nối giữa hai lùm cây, đoạn giữa được nguỵ trang bằng cây song đã khô lá. Sàn cầu lát bằng các thanh gỗ với bốn sợi cáp rất chắc chắn.
Ðến kho gạo chúng tôi nghỉ ăn cơm trưa. Ðầu tôi cứ láng máng hình ảnh con giun đất từ mái nhà rơi xuống giường đêm hôm qua. �n xong, đóng gạo vào bao, chúng tôi lục tục quay về.
Ðến gần cầu treo, có tiếng OV10 bay dọc bờ sông, nó vòng đi, vòng lại. Thế rồi máy bay lao xuống kèm theo tiếng ụt ụt như động cơ bị tắc, một loạt tiếng nổ chát chúa ngoài bờ sông, lại một loạt tên lửa nữa bắn xuống. Cầu treo bị lộ rồi! OV10 dến thế nào cũng bị bom, chúng tôi được lệnh sơ tán vào khe suối.
Thế mới mệt đây! tối nay có vượt được sông hay không? Cầu hỏng thì đi bằng cách nào? chỉ tại con giun đất, mày hại chúng tao quá!
Khoảng gần tối máy bay cút, chúng tôi mò ra bờ sông.
Ra đến đường xe thồ, thấy bộ đội cáng nhau ngược chiều, máu vẫn còn loang trên võng:
-Nó đánh chỗ nào đấy hả đồng chí? Mình bị thương có nhiều không?
-Nó đánh vào hai đầu cầu! Ðứt cầu treo rồi!
Người cáng thương vừa đi vừa trả lời cho xong việc. Bây giờ làm thế nào đây, ra bờ sông hay chốt lại. Ðàng nào cũng không ổn, ở lại thì ăn bằng gì, ngủ ở đâu trời mùa mưa thế này tăng võng không mang theo. Cuối cùng chúng tôi quyết định cứ ra bờ sông rồi tính sau.
Tối một lúc thì ra đến bờ sông, hai đầu cầu cây cối nghiêng ngả, mùi khét của thuốc bom còn chưa tan hết, có mấy chiến sỹ công binh cầm súng đứng ở ven cầu.
-Này đồng chí ơi, chúng tôi xê 21 quân y, sang sông bằng cách nào hả đồng chí!?
-Không có thuyền đâu, các ông phải chờ đến ngày mai xem thế nào!
Chúng tôi ngồi bệt xuống đất thở rốc, xui xẻo quá, kiểu này ở đây đến nhịn đói, ngồi làm mồi cho muỗi và dĩn, biết đâu đêm nay B52 mò đến sơi tái cả lũ cũng nên. Nếu gùi gạo quay lại khu vực an toàn thì có mà sáng.
Cầu treo bị bắn đứt hai sợi cáp cùng một bên, sàn gỗ buông xuống một đầu vẫn bám vào sợi cáp, hai đầu cầu vẫn hở trên mặt nước còn đoạn giữa chìm sâu xuống lòng sông.
Có một đoàn cán bộ từ bên kia đi sang, họ bám tay vào sợi cáp trên, còn chân thì đi lên sợi cáp dưới, ở giữa sông nước ngập ngang đùi:
-Cứ sang đi, không việc gì đâu! Chết nó có số rồi!
Thấy vậy một đoàn vận tải đi gùi hàng hăm hở lên cầu. Có ai đấy bảo: C21 đâu, chuẩn bị sang sông!
Người ta đi được thì mình cũng đi được, chúng tôi sắn quần, khoắc gùi trên vai có vẻ quyết tâm lắm.
Nhìn sợi cáp to gần bằng cổ tay vít chắc chắn vào gốc cây, tôi cũng yên bụng. Kìa ông này, lên đi! Chú ý đi thưa ra! Từ từ thôi!
Chúng tôi lần lượt lên cầu, ở đầu bên này, cáp bị nước kéo căng nên có vẻ chắc chắn. Ðến khi ra đến giữa dòng, cáp chìm sâu xuống nước, những thanh gỗ sàn cầu vẫn bám vào sợi cáp lại bị lực nước cản, cứ đu đưa như đánh võng. Cáp trùng xuống mà sợi trên thấy như cao thêm, nước ngập đến quá đùi, sơ sảy một tý là trượt chân rơi xuống dòng nước xoáy.
Thế rồi chúng tôi cũng lần lượt sang sông, ướt hết quần áo. Thôi thế là may lắm rồi, đi ra ngoài đường nhựa rồi hãy nghỉ, khẩn trương lên!
Vừa đói, vừa mệt, mò mẫm đến gần sáng chúng tôi mới về đến đội phẫu, người như muốn lả đi.
Sau ba tháng học lý thuyết, chúng tôi chuyển sang vừa học vừa thực hành. Phân theo ca trực cùng y, bác sỹ, tiêm và thay băng cho thương binh, kiến tập các ca phẫu thuật nhỏ trong bệnh xá.
Có một bệnh nhân của K9 tên là Hồng. Một sinh viên đại học bách khoa năm thứ tư thì nhập ngũ. Anh ta đã bị sốt rét ác tính, sốt đi sốt lại nhiều lần và trở thành tâm thần phân liệt. Theo lời của người cáng bệnh nhân đến thì thời gian nằm viện của anh ta nhiều hơn thời gian ở đơn vị. Người ta sẵn sàng quy cho là bệnh tư tưởng và không thiếu điều ong, tiếng ve. Bởi thế bệnh tình ngày một nặng thêm.
Nhìn anh ta có lúc như kẻ mất hồn, lúc tỉnh táo lại có vẻ rất thông minh, với hai con mắt mở to, cằm hơi nhọn và cái trán vừa rộng, vừa hói. Chúng tôi được lệnh giám sát anh ta với một câu chuyện: Một bệnh nhân tâm thần phân liệt ở một đội phẫu nọ, khi thấy bộ đội cáng thương binh vào bệnh xá vô tình để súng ở ngoài cửa lán. Anh này cầm súng và bắn luôn vào đầu tự sát. Ây thế là còn may đấy, ví thử anh ta cầm súng mà lia luôn cả băng vào tất cả thương binh đang điều trị trong bệnh xá thì cái gì xẽ sảy ra đây!?. Bởi thế ca nào cũng phải áp sát người bệnh nhân tâm thần phân liệt này.
Một đêm chúng tôi đang ngủ thì có lệnh báo động mất bệnh nhân Hồng. Tất cả y bác sỹ đến học viên toả đi các hướng tìm kiếm, tang tảng sáng thì thấy anh ta ngồi lù lù cạnh một thác nước rất sâu sau đội phẫu. Chúng tôi bảo nhau: Hay là cũng định tự tử!? Xét về mặt tâm lý : Một người đang ốm đau, bệnh tật mà lời động viên quan tâm của đơn vị thì thiếu, trong khi đó câu trì triết chụp mũ lại qúa là thừa. Một chiến sỹ có hiểu biết, có trình độ lại phải chịu dưới sự chỉ huy, quản thúc của một người cán bộ thiếu năng lực chẳng hạn thì khó có sự đồng cảm. Thường thì những người như thế lại rất hay máy móc, nguyên tắc và bài bản dở hơi.
�Trong bệnh xá, còn có một chiến sỹ công vụ cho ông Dần � Trung đoàn phó � Chiến sỹ này tôi không nhớ tên, quê ở Thái Bình. Thường thì lính công vụ đều nhanh nhẹn tháo vát và đẹp trai. Viên đạn xuyên qua làm gãy xương hàm phải và trái, đứt đôi lưỡi, khuôn mặt méo đi không thể nhận ra gương mặt khả ái ngày xưa nữa. Anh ta kể trong ngọng ngựu, tiếng được, tiếng mất, có câu phải luận mãi mới ra: Vừa giải phóng xong, tôi và mấy trinh sát cùng thủ trưởng Dần ra ngay thị trấn Tân Cảnh. Chưa đi đến hết bìa rừng thì gặp một toán tàn binh nguỵ. Chúng sả súng bắn rồi bỏ chạy vào rừng. Thủ trưởng Dần ngã xuống, tôi thấy mặt mình biêng một bên và tê đi, máu trong mồm chảy tràn ra, nhổ mãi không hết. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ một điều: Chạy ngay về đội phẫu! Thế là tôi chạy quay lại, về gần đến đây thì ngã xuống không biết gì nữa!
Nghe đâu trung đoàn phó Dần đã hy sinh, còn người công vụ này chờ vết thương ổn định rồi chuyển ra bắc. Không biết số phận người chiến sỹ ấy hiện nay ra sao!
Tháng 10 Năm 1972 chúng tôi theo đội phẫu tiền phương đi phục vụ chiến dịch PLâyCần đợt hai. Rút kinh nghiệm trận đánh trước, lần này toàn trung đoàn ra quân với khí thế quyết chiến quyết thắng, tập trung nhân vật lực và vũ khí hiện đại hiện có, tiêu diệt bằng được cụm cứ điểm này. Nơi tiểu đoàn 95 biệt động biên phòng nguỵ được Nguyễn Văn Thiệu gắn huân trương bội tinh và tuyên dương( Anh hùng cao nguyên trấn) chiếm giữ.
Lệnh khai hoả! pháo binh tên lửa, tầm xa tầm gần, đồng loạt nhả đạn. Pháo bắn hai ngày hai đêm, lũ nguỵ long óc, một số hoảng loạn liều mạng vượt rào, đứa này bị mìn chết đứa kia leo lên lưng nhảy qua kẽm gai chạy ra rừng.
10 giờ sáng Ngày 12 Tháng 10 Năm 1972 ba mũi tiến công của K7, K8, K9 và tiểu đoàn 37 đặc công cùng các đơn vi phối thuộc đồng loạt tiến công vào cứ điểm. Ðịch ngoan cố chống cự trong hoảng loạn. Sau 5 giờ chiến đấu ác liệt, ta làm chủ hoàn toàn trận địa.Tiêu diệt 404 tên, bắt sống 40 tên, bắn rơi 6 máy bay các loại, thu hồi toàn bộ phương tiện chiến tranh và kho tàng của địch. Thế là Bến Hét-Cụm cứ điểm PlayCần -Tiểu đoàn 95 biệt động biên phòng của nguỵ quyền Sài Gòn- Bị xoá sổ.( Lịch sử sư đoàn 10 � Ðại tá lê Hải Triều- NXB QÐND)
Cuối Tháng 10 đầu Tháng 11 Năm 1972 chúng tôi lại theo đội phẫu đi phục vụ chiến dịch Ðak Xiêng.
Sau trận Ðak Xiêng này, lớp y tá quay về bệnh xá trung đoàn tổ chức thi tốt nghiệp. Hầu hết học viên đều nắm chắc lý thuyết, thực tế đã cùng đội phẫu qua các trận đánh, đủ kinh ngiệm về chuyên môn nghiệp vụ để trở về đơn vị chiến đấu.
Tôi được điều về làm y tá tiểu đoàn� 8 Trung đoàn 66. Lại một trang mới gay go và ác lệt phía trước.
-------------------------------------------------------------------------------
          Lâm thao Ngày 14 Tháng 11 Năm 2007
Hoàng Kim Hậu
---------------------------------------------------------------------
Chống lấn chiếm trên bản Ðak - rơ - cót
 Kon tum
Tặng cán bộ chiến sỹ tiểu đoàn 8 bộ binh - Trung đoàn 66 - Sư đoàn 10 - QÐ 3.

Tháng 12 Năm 1972 hội nghị Pa - Ri về Việt Nam bế tắc, Mỹ đơn phương chấm dứt đàm phán, đưa máy bay chiến lược B52 đánh phá Hà Nội- Hải Phòng và một số tỉnh phía bắc, hòng chiếm ưu thế trên bàn hội nghị.
Hàng ngày nhìn những tốp B52 hùng hổ bay ra phía bắc, chúng tôi thấy tim mình như nghẹn lại, lo thay cho hậu phương lớn. ở đây là một vùng rừng núi bao la, B52 giải thảm chắc gì đã huỷ diệt được những người lính như chúng tôi đã từng chung sống và quen với bom và đạn Mỹ. Nếu B52 mà ném bom xuống Hà Nội , Hải Phòng, xuống nhà trường, bệnh viện và làng quê bình yên của miền bắc thì sự huỷ diệt của nó tàn bạo đến như thế nào đây.
Nhìn lên trời, hàng tốp B52 không cần máy bay tiêm kích hộ tống, đen xẫm phun khói ngạo mạn bay ra miền bắc. Thế nhưng rồi chiều hoặc sáng hôm sau lại thấy một hoặc hai chiếc lầm lũi như kẻ cắp bị đòn lủi thủi bay về phía Thái Lan. Qua bản tin thời sự của Ðài tiếng nói Việt Nam, quân và dân Miền Bắc anh hùng đã bẻ gãy cuộc tập kích chiến lược của địch, bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 chiếc B52. Con bài ngáo ộp cuối cùng của Mỹ bị thất bại buộc chúng phải ngồi vào bàn thương lượng tại hội nghị Pa Ri về chấm dứt chiến tranh Việt nam.
Tiểu đoàn bộ nằm sau thị trấn Tân Cảnh trong một cánh rừng loang lổ vết bom. Quân y tiểu đoàn có 3 người, Nguyễn Kiến Ðào -Y sỹ bệnh viện Yên Bái nhập ngũ theo đoàn Hoàng Liên Sơn vào chiến trường cuối năm 1971 (Hiện nay là viện phó BVÐK Yên Bái). Ðó là một y sỹ còn rất trẻ, cao ráo, đẹp trai, rất quyết đoán trong mọi công việc. Anh Tuấn y tá, quê ở Hà Tây- Có cái đầu to, tóc quăn luôn chải bồng về phía sau nên trông lại càng to, tiểu đoàn quen gọi lóng là (Tuấn cán gáo), Người thứ ba là tôi- Hoàng Kim Hâu y tá mới vừa ra trường.
Về tiểu đoàn bộ được một tuần thì đài kỹ thuật của ta báo về: Toạ độ Y+2 vĩ tuyến bắc và N-1 vĩ tuyến nam khẩn trương sơ tán. Trong khi chưa kịp di chuyển đơn vị- Bắt buộc từ nay tất cả phải nằm trong hầm chữ A, không ai được nằm hầm thùng!
Toạ độ đó đúng vị trí đóng quân của tiểu đoàn 8 chúng tôi. Có lẽ lũ biệt kích cắt rừng phát hiện ra vị trí đóng quân của ta, chúng điện về xin B52 đánh bom. Bộ phận đài thông tin� kỹ thuật của sư đoàn bắt được.
Tôi dọn lại hầm chữ A, thế nhưng lâu không ai vào, nó vừa hôi, vừa mốc. Anh Ðào bảo: Thôi, cứ mắc võng trong hầm thùng, có gì chui vào đó sau cũng được!
Khoảng 1 giờ sáng ngày hôm ấy, tôi chỉ thấy ba bên bốn bề sáng quắc lên, đất đá ào ào phủ lên lán hầm, tiếng huỳnh huỵch xung quanh, tai ù đặc, võng lắc như ngồi trên thuyền vượt thác. Tuấn kêu to: B52 rồi! Thế là ba người cùng một lúc lao vào cửa hầm chữ A.
Một quả bom nổ rất gần hất bay mái lán, ba lô, thuốc thang để trên giá cũng bay đâu mất. Cây cối, đất đá phủ đầy hầm, xung quanh quang tinh để tơ hơ ba ông quân y cùng chen nhau vào cửa hầm mà không ai vào được. Chiếc chăn dù hoa một đầu quấn vào chân tôi và một đầu vẫn loài thoài trên võng.
Hết ba loạt bom, tim đập thình thịch, chúng tôi sờ soạng tìm ba lô và túi thuốc. Anh Ðào bảo: Chú ý nghe xem có hầm nào kêu cứu hay không.? Mẹ nó, may mà còn ôm theo túi thuốc cấp cứu - Ðèn pin của ông Tuấn đâu? đèn của tôi bay bố nó đâu mất rồi!
Ðầu tháng 1 Năm 1973 hội nghị Pa Ri về chấm dứt chiến tranh Việt Nam đã được ký sơ bộ. Ðể đáp ứng công tác chính trị trong điều kiện mới và bảo vệ vững chắc vùng giải phóng- Chúng tôi nhận lệnh hành quân.
Cắt về phía đông, qua dãy núi Ngọc-Bầu-Biêng, những cánh rừng hoang sơ cây cổ thụ cao 4-5 chục mét đã bị chất độc màu da cam huỷ diệt. Những thân cây cao lêu đêu, trơ trụi lá, cành cây khẳng khiu như cánh tay quỷ giơ cao lên trời. Vượt trên triền núi, gió từ phía đông thổi rất mạnh làm cho cây và cành khô gãy răng rắc. Có ngày vượt qua một khu rừng cháy đen, trơ trụi lá, đất tơi xốp bốc bụi mù mịt. Lệnh trên hàng quân truyền xuống: Bộ đội dùng nước trong bi đông thấm ướt khăn mặt thay cho khẩu trang! Khẩn trương vận động qua bãi chất độc hoá học! Không ai được dừng lại!
Qua mấy ngày hành quân, chúng tôi đã tập kết cạnh chân cao điểm 601- Ven đường 14 phía bắc thị xã Kon Tum khoảng 8Km. Ðại đội 7 và một khẩu đội 12 ly7 của C14 thay cho đơn vị bạn chốt giữ cao điểm 601. Tiểu đoàn bộ nằm trong bãi nương bỏ hoang của dân, lúp xúp cây cộng sản mọc thưa thớt.
Hết bom lại pháo, trên cao điểm không lúc nào tan khói. Thằng địch đang cố đẩy ta ra khỏi chốt, tận dụng hết uy lực của bom đạn Mỹ trước khi hiệp định Pa Ri được ký kết.
Từ tiểu đoàn bộ nhìn lên, khói bom bao trùm cao điểm, cứ nghe hàng loạt tiếng đề pa của pháo là từng cột khói dựng lên trên chốt như đang xem phim thời sự vậy. Hết pháo, bộ binh địch mò lên, tiếng AK đồng loạt điểm xạ, B40 ùng oàng chớp lửa. Ðịch bỏ chạy, bom và pháo lại trùm lên cao điểm. Người lính hàng ngày kiên gan đọ sức cùng bom đạn Mỹ như thế, chắc gì mày đã đánh đáo trúng hầm của bọ? Nếu trúng thì bọ hy sinh còn không cứ cho quân chúng mày lên đi!
Một buổi chiều, có chiếc trinh sát L19 bay đến, nghiêng ngó dọc khe suối cạnh tiểu đoàn bộ. Hai chiếc AÐ6 từ Kon tum bay lên, đạn khói được phóng xuống thượng nguồn con suối, thế là hai chiếc máy bay cứ thế bổ nhào ném bom.
Có lẽ địch nghi ta trú quân dọc theo khe suối, chỗ nào có cây xanh là chúng huỷ diệt. Rất may đến quả bom thứ 12 địch choang đúng bụi le cạnh bềp anh nuôi và hầm quân y tiểu đoàn. Quả bom rơi cách chúng tôi khoảng 6 m, hơi bom làm sập một góc hầm quân y, bụi bay mù mịt. Nồi quân dụng cơm đã chín để ngập trong bếp Hoàng Cầm bị hơi bom lật úp, bật ra ngoài. Tiểu đoàn bộ chốt trong bãi nương bình yên vô sự, đó cũng là một chiến thuật trú quân mà thằng địch không thể lường hết được.
Một buổi trưa, không gian vắng lặng, bỗng nghe có tiếng nổ đùng đục làm rung chuyển cả căn hầm. Chúng tôi nhìn lên chốt, một cột khói đen bốc cao quấn theo cây cọc và đất đá lên trời, có ai đấy bảo: Bom nổ chậm rồi!
Một lúc sau, từ trên chốt điện về báo cho quân y tiểu đoàn chuẩn bị cấp cứu. Khoảng 20 phút, một thương binh được cáng về đội phẫu. Ðó là người đại đội phó của đại đội 12 ly7.Vết thương cắt ngang qua mặt, sống mũi bị chia làm hai, môi trên xệ xuống kín cả miệng. Trước khi để cho chúng tôi băng bó, anh đẩy hai cánh mũi lên, cúi xuống cho máu chảy ra và bảo:
-Có lẽ lần này tôi nằm viện rất lâu, ngày mai là ngày chuyển Ðảng chính thức của tôi, các đồng chí ở lại làm thủ tục cho tôi được chuyển Ðảng đúng hạn định. Còn thằng Kế cố gắng tìm và chôn cất cho nó được chu đáo! Sau đó anh mới để cho chúng tôi băng lại.
Qua những người cáng thương kể: Khẩu đội 12,7 ly từ trong cao điểm 601được lệnh chuyển� ra ngoài hàng rào để đủ tầm bao quát chi viện cho bộ binh và bắn máy bay địch. Hầm đào gần xong, Phùng Văn Kế , cùng nhập ngũ một ngày với tôi- Quê: (Thuỵ Vân-Lâm Thao-Phú Thọ) y tá đại đội và chiến sỹ liên lạc vào rừng chặt kèo hầm. Khi về đền nơi, người đại phó đang lúi húi sửa lại hầm. Vừa nặng, vừa mệt, Kế lao bó gỗ xuống bên cạnh, không ngờ trúng luôn quả mìn chống tăng của địch chôn từ trước, cả người và bó gỗ bay lên trời.
Hiệp định Pa ri có hiệu lực từ 7 giờ sáng Ngày 28 Tháng 01 Năm 1973. Với bản chất hiếu chiến của Mỹ và nguỵ quyền Sài Gòn. Ðúng 6 giờ sáng cùng ngày, 3 loạt B52 còn đánh xuống khe suối dưới chân cao điểm. Lý Sài Quẩy, anh nuôi đại đội 7 vừa đưa cơm trên chốt quay về, may mà không có ai việc gì.
Ðúng 7 giờ Ngày 28 � 01 � 1973 hiệp định Pa Ri về Việt nam có hiệu lực, lệnh ngừng bắn được ban bố, các bên tham chiến giữ nguyên vị trí tập kết của mình, cắm cờ phân chia khu vực dưới sự giám sát của uỷ ban quân sự bốn bên. Không thấy tiếng động cơ máy bay và tiếng pháo gầm rú. Xung quanh vắng lặng bỗng đâu vẳng tiếng gáy của chú gà hoang gọi bạn. Chúng tôi chạy ùa lên hầm: Hoà bình rồi, cờ đâu treo lên để đón máy bay Liên hiệp quốc!
C7 bàn giao cao điểm 601 cho đơn vị bạn, K8 chuyển về khu vực Kông Trang kla-Kông Trang Kép và� Ðak Rơ Cót làm nhiệm vụ giữ đất, cắm cờ.
Chỉ huy nhẹ tiểu đoàn gồm: Ông Lợi- Chính trị viên phó, một tổ trinh sát, một thông tin PRC 25 và một công vụ, cùng C7 cắm cờ trên bản Ðakrơ Cót. Tôi, y tátiểu đoàn tạm thời về tăng cường cho C7.��
Ðó là một bản nhỏ bỏ hoang còn sót lại vài ngôi nhà sàn siêu vẹo, những tấm tôn hoen rỉ rơi vãi cong vênh. Ði đến góc nào của bản cũng gặp cồng chiêng lớn bé, chum vại đủ loại nằm lăn lóc.
Phía đông là một dông đồi cao ráo với vạt rừng thưa, phía bắc có con đường mòn đi ra cao điểm 601 và đường 14. Phía tây bản là một bãi lầy loang lổ hố bom ngập đầy nước, xung quanh cỏ và rau cần hoang mọc xanh rì.
Trong thời điểm này, cả ta và địch luôn giữ khoảng cách giữa chiến tranh và hoà bình: Súng đạn lúc nào cũng sẵn sàng nhưng không ai được nổ súng.
Hàng ngày chúng tôi cắm cờ trên bản, chia nhau đi tuần tra toàn khu vực, cho bộ đội đi cắt gianh, củng cố lại hầm hào và lán trại.
Thằng địch ngoài vị trí chiếm đóng ra, chúng còn cho từng toán quân chui vào vùng giải phóng của ta để treo cờ nguỵ. Hôm ấy tổ tuần tra phát hiện toán địch mũ sắt lố nhố, một tên gài lá cờ ba que sau đít đang leo lên ngọn cây.
- Ai cho phép chúng mày cắm cờ ở đây!?
Quân nguỵ quay ra đã thấy bộ đội ta đứng ngay bên cạnh, phong thái đàng hoàng dõng dạc vội vàng bỏ chạy tán loạn, tên nguỵ trên ngọn cây hoảng sợ tụt ngay xuống đất, bỏ cờ lủi mất.
Trung đoàn tổ chức các điểm tiếp xúc với nguỵ quyền Sài Gòn, thành lập nhà hoà hợp dân tộc cho các đội công tác tuyên truyền chính sách của mặt trận đối với gia đình và binh sỹ nguỵ quyền. Giải thích các điều khoản về hội nghị Pa Ri, về hoà hợp dân tộc và hoà bình đang được vãn hồi.
Hầu hết binh sỹ nguỵ đều mong mỏi hoà bình, chấm dứt cuộc đời đi đáng thuê, chết thay cho Mỹ. Lũ sỹ quan ác ôn và bọn tâm lý chiến thì ngoan cố, quanh co nhiều khi còn đưa ra những đòi hỏi láo sược.
Một hôm, ba tên nguỵ sách theo chai rượu và mấy con cá mực đi đến. Cán bộ ta lấy kẹo lạc ra mời và xin lỗi: Bộ đội giải phóng không uống rượu trong khi đang làm nhiệm vụ.
Ba tên ra về, cách nhà một đoạn, chúng ngồi bệt xuống đất, đem rượu và mực ra chén sạch sau đó mới trở về nơi đồn trú.
Ðêm hôm ấy tôi đang ngủ, thấy tiếng leng keng trong bản, anh Lan thức dậy cắp súng đi kiểm tra. Mất cờ! Ðến hỏi trung đội� nhận ca ban chiều giao cho trung đội ca đêm cờ vẫn còn. Chiến sỹ nhận ca đêm bảo tối quá không nhìn thấy cờ. Thế thì biệt kích mò vào bản lấy trộm cờ rồi! Lệnh báo động. Cả đại đội nháo nhào, đến khi người đại phó trong hầm chui ra bảo: Tối hôm qua đi kiểm tra thấy cờ vẫn treo trên cột, sợ mất trộm nên tôi gỡ cất đi rồi!
Thế cái gì leng keng trong bản? Không phải địch thì là gì? Ði kiểm tra một vòng thấy có rất nhiều vết chân trâu trong bản.
Sáng hôm sau, tổ trinh sát bắn chết một con trâu mẹ và trâu con dưới bãi lầy. Trâu mẹ được chia về cho các đại đội trong tiểu đoàn, trâu con thì để lại chỗ thầy trò ông Lợi. Từ đó bộ đội gọi lệch ra biệt danh là ông Lợi nghé!
Ðịch bắt đầu lén lút phá hoại lệnh ngừng bắn. Chúng cho quân mò sang vùng giải phóng, gài mìn trên đường đi tuần của ta. Hôm ấy tổ tuần tra gồm Sơn tiểu đội phó, Chuốt ( Hai người cùng quê Vĩnh Tường ) và Phòng (Nhìn anh ta lúc nào cũng lôi thôi nên gọi là ông thợ cối) đi đến bãi gianh thì vướng mìn. Sơn hy sinh tại chỗ, Phòng bị thương, Chuốt bỏ chạy về bản. Khi ra đến nơi, bãi gianh cháy lan sang người Sơn, tóc tai và áo quần cháy nham nhở, các vết thương bị cháy xém nứt ra.
Nhìn thấy đồng đội của mình như vậy, là lính mới vừa vào chiến trường, Chuốt hoảng sợ, nhân lúc một mình đứng gác đã dùng kíp mìn tự thương.
Tôi cùng đại đội và ban chính sách trung đoàn vượt qua bãi lầy ra ngay điểm chốt. Chuốt bị cụt ba ngón tay trái tính từ ngón út. Khi xét kỷ luật, Chuốt thành thật nhận lỗi về mình. Xin không quay ra Bắc mà ở lại chiến đấu, lập công chuộc tội.
Tháng 03 Năm 1973, Nguyễn Văn Thiệu trắng trợn phá hoại lệnh ngừng bắn, thực hiện chiến dịch vết dầu loang: Ðưa quân lấn chiếm từng vùng giải phóng, khu vực nào không dúi được thì chúng giả vờ ngồi bàn hiệp thương và hoà hợp dân tộc. Phía ta vẫn kiên trì quan điểm hoà giải, từng khu vực giữ vững vùng giải phóng.
Khu vực Cơrong-Trung Nghĩa, bản Ðak Rơ Cót-Kông Trang Kép, Kông Trang Kla địch lấn chiếm ác liệt, khu vực này đã trở thành mũi tiền tiêu chống lấn chiếm. Tôi nhận lệnh quay trở về đội phẫu của tiểu đoàn bộ.
Chúng tôi đóng quân trong cánh rừng le khá bằng phẳng. Tôi chịu không xác định được mình đang ở khoảng nào và hướng nào của bản Ðak Rơ Cót. Xung quanh pháo bắn mù mịt, thương binh từ các đại đội lần lượt cáng về.
Cấp cứu rồi sơ cứu, phân loại thương binh cho chuyển về phía sau. Suốt ngày chui lên hầm, chui xuống hầm, tiêm thuốc băng bó cho thương binh, lo tránh pháo.
Ðêm hôm ấy có thương binh của C5 cáng về. Anh ta tên là Giang ( Tôi không nhớ quê). Vết thương xuyên cột sống, liệt toàn bộ từ thắt lưng trở xuống. Ðáng ra phải chuyển thương binh này về tuyến sau, nhưng thương binh được đưa về quá muộn nên chúng tôi phải cấp cứu và thay nhau trực.
Anh Ðào bảo:
-  Tôi mệt quá rồi, ông trực mấy tiếng sau đó gọi (Tuấn cán gáo) thay cho!
-  Anh phải gọi lão Cán gáo này gác trước sau đó để lão gọi em mới được, ông
này ngang lắm!
Anh Ðào đi các hầm, thò cổ vào: Tuấn ơi! ới Tuấn!Không có ai thưa.
Kiểu này là hắn trốn tiệt trong hầm rồi! Thôi, ông cứ trực thương binh đi, lúc nào mệt quá thì gọi tôi!
Thương binh nằm ngổn ngang trong hầm, người nọ gác vào người kia. Có một thương binh ban chiều còn kêu được vài câu bây giờ đã chết, Người thương binh cột sống này một nửa người đã lạnh giá, anh ta bảo tôi kéo chân anh chàng đang ngáy bên cạnh ra không thì nó cựa và đạp vào mặt.
Bên ngoài pháo địch câu đến, trong hầm leo lét ngọn đèn đốt bằng ống tiêm, mùi mồ hôi lẫn với mùi tanh của máu.
Tôi dựa vào vách hầm và ngủ mất. Tỉnh dậy sờ vào người thương binh đã thấy cứng ngắc, anh ta chết từ bao giờ, ca trực của mình mà không biết, hai chân người thương binh bên cạnh lại còn khư khư gác lên cổ.
Tôi cố lay gọi, hai tay anh ta lạnh giá, sờ vào cổ, vẫn còn hơi ấm. Thôi được rồi, tôi leo lên hầm đi gọi anh Ðào.
Trăng thượng tuần chênh chếch sau cánh rừng, có lẽ là cuối của tháng âm lịch. Gió ào qua xe lạnh, anh Ðào lập cập cầm túi cấp cứu cùng tôi chui xuống hầm.
-Ông cầm đèn soi đi!
 - Qua ánh đèn pin tối mù mù, bàn tay người thầy thuốc lách kim tìm tĩnh mạch. Chỉ một lúc sau, thương binh tỉnh dần, anh ta còn bảo:
 -Gãy cột sống thế này thì chết thôi! Tiêm làm cái gì cho mệt ra!
 - Chết là thế nào? Mai đưa ông về đội phẫu chữa chạy xẽ khỏi, cuối năm lại ra bắc cưới vợ, yên tâm đi!
 Người thương binh này sáng hôm sau cáng về đến đội phẫu thì hy sinh.
 Ðầu tháng tư, chúng tôi được lệnh rút về hậu cứ, bàn giao cho đơn vị bạn giữ chốt.
 Ðường hành quân phải qua một bãi tráng rộng khoảng 500 m, phía bên kia là con suối có chiếc trực thăng rơi, ai đó đã lấy cánh quạt máy bay kê làm cầu qua suối. Bởi thế cho nên người ta gọi tên là: Suối trực thăng rơi cho dễ nhớ.
Chúng tôi ba lô, thuốc thang cồng kềnh lần lượt rút quân. Tuấn đi đầu đã vượt được gần một nửa bãi tráng, tôi và anh Ðào ra cách bìa rừng một đoạn bỗng hai chiếc trực thăng từ sau bìa rừng ào đến, đại liên bắn sối sả xuống bãi tráng, cánh quạt hắt thuốc súng xuống khét lẹt.
Tuấn lăn kềnh ra bãi tráng, tôi và anh Ðào chạy quay trở lại, nhảy xuống một khe suối nhỏ. Anh Ðào bảo: Tuấn cán gáo chết rồi! Tuấn cán gáo chết rồi!
Máy bay ào qua một lúc thì thấy ông cán gáo lạch bạch chạy về: Mặt mày tái mét, Tuấn bảo: May quá, nó bắn ở bên kia suối trực thăng rơi!
Kết thúc những ngày cắm cờ đầy gian nan mà ác liệt/
----------------------------------------------------------------------------------
Lâm thao trung tuần tháng 11 Năm 2007
Hoàng Kim Hậu
------------------------------------------------------------------------------------

Ðánh vào trung tâm tiểu đoàn bảo an
Bắt sống tiểu đoàn trưởng

Tháng 10 Năm 1974, tiểu đoàn 8 trung đoàn 66 nhận lệnh cùng đại đội 19 đặc công, luồn sâu đánh vào sở chỉ huy tiểu đoàn Bảo an Nguỵ đang chốt giữ trên điểm cao 827 phía Tây Bắc, giáp thị xã KON TUM.
Tiểu đoàn Nguỵ đóng trên bốn dông đồi có thế liên hoàn ứng cứu lẫn nhau: Chỉ huy sở đóng ở trung tâm trên một cao điểm không dốc lắm, ba đại đội Bảo an địch án ngữ theo thế chân kiềng rất gần trong tầm cối 60 chi viện cho tiểu đoàn bộ và các điểm chốt.
Ðồng chí Tạ Ngọc Oanh- Quê Phú Xuyên Hà Tây-Tham mưu phó trung đoàn trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Nhiệm vụ của tiểu đoàn 8 là: Luồn sâu bỏ qua ba đại đội vòng ngoài, đánh thẳng vào trung tâm tiểu đoàn bộ, bắt sống sở chỉ huy của địch, buộc chúng phải co cụm về thị xã.
Ðường hành quân loanh quanh trong rừng, chúng tôi cứ theo trinh sát dẫn đường mà đi, chẳng biết Ðông Tây Nam Bắc là hướng nào cả. Có lẽ cũng rất gần thị xã, ban ngày thấy tiếng máy bay lên xuống rất thấp. Ðêm về C130 lượn xung quanh, thỉnh thoảng bắn 20 ly và thả cái gì nghe hun hút như cắm cây nhiệt đới.
Sau ba ngày hành quân, đến vị trí tập kết, các đại đội bí mật cưa gỗ làm hầm, Ngày hôm sau, để một số đồng chí yếu sức khoẻ ở lại trông ba lô, còn tất cả hành quân về phía trước.
Thường ngày, y tá đại đội họp giao ban cùng các B chiến đấu, nhận xét công tác vệ sinh phòng dịch của các trung đội, kiểm tra giếng nước, bếp ăn của anh nuôi, các trường hợp chiến sỹ bị ốm đau bệnh tật, báo cho đại đội biết quân số đủ điều kiện sẵn sàng chiến đấu.
Trong trường hợp xuất kích, chiến sỹ nào ở lại vị trí tập kết đều do y tá đại đội đề xuất ý kiến.
Trận đánh này rất ác liệt, bỏ qua ba đại đội vòng ngoài đánh thẳng vào chỉ huy sở tiểu đoàn địch, hy sinh mất mát là khó tránh khỏi. Trong khi đó Phạm Hồng Quân  Cán bộ trung đội khung mới vào chiến trường. Quê (Phú Lộc  Phù Ninh  PT) dạo này đang bị sốt do viêm hạch, chân đi tập tễnh, tôi xếp cho Quân ở lại cùng nhóm coi ba lô. Quân vui vẻ, không có ý kiến gì cả.
Chiều hôm ấy, tôi và Nguyễn Văn Ninh Y tá ( Quê: Hoà Bình) đang chuẩn bị thuốc men thì Quân đến:
 -Tôi đi xuất kích, không ở nhà nữa đâu!
 -Tại sao lại không ở nhà?
 - Lão Bính (Trần Xuân Bính � Ngưòi Cao Bằng - Thay Khoản làm tiểu đội trưởng cối 60) đi giao ban về nói tôi chẳng ra gì cả!
- ông Bính bảo sao?
- Lão ấy bảo: Cái lũ cán bộ khung ngoài Bắc vào thằng nào cũng hèn nhát! Chưa chiến đấu đã rụt vòi vào! Hơi sốt một tý đã mò lên đại đội xin ở lại!
- Ông Bính tiểu đội trưởng, ông là tiểu đội phó, kể ra có ông cùng đi thì nhiệm vụ của tiểu đội cũng nhẹ nhàng hơn! Nhưng mà danh sách ở lại đã duyệt qua đại đội rồi!
- Duyệt rồi tôi cũng không ở nhà, tức lắm!
- Chú Quân- Tôi thay đổi cách xưng hô thân mật như người nhà- Trận đánh này ác liệt lắm đấy! Chú lại chưa trải qua chiến đấu bao giờ cả, mặc xác lão Bính!
- Không! Chết thì chết, tôi cứ đi!
- Khoảng 5 giờ chiều, đại đội bỏ ba lô lại vị trí tập kết, mỗi người mang theo súng đạn, tăng võng và gỗ làm hầm vác trên vai hành quân vào phía trước, Quân nhất quyết đuổi theo đơn vị.
Ðến nước này thì tôi đành phải van xin:
-       Trong chiến trường, có người can ngăn mà không nghe là dở lắm đấy!
-       Không!
�Cùng lúc ấy, ông Lợi chính trị viên phó tiểu đoàn đi đến, tôi trình bày:
- Báo cáo thủ trưởng: Ðồng chí Quân hiện nay đang sốt, đại đội phân công coi quân trang tại vị trí tập kết nhưng cố tình chống lệnh ạ!
-       Không chấp hành mệnh lệnh thì thu súng lại!
-       Thủ trưởng thu súng thì tôi lấy súng của tử sỹ để đánh nhau! Là người lính đi chiến đấu tôi không có tội!
Thấy Quân lý sự như vậy, người chính trị viên phó thôi không nói nữa.
 - Quân này, trong chiến đấu anh gàn mấy trường hợp họ không nghe đều hy sinh cả đấy! Chú nghe anh quay về đi!
Quân không nói không rằng, lầm lũi đuổi theo đơn vị.
Tiểu đoàn tôi chia làm ba mũi đánh vào cứ điểm. C7 đi theo ba hướng: Trung đội 1 cùng đại đội đặc công đánh vào tiểu đoàn bộ, trung đội 2 cùng khẩu đội cối của Quân tiến lên sát đại đội bảo an vòng ngoài pháo kích, quấy rối không cho địch ứng cứu lẫn nhau. C5 và C6 trong tiểu đoàn dùng 2 trung đội đánh vào hướng chính, một trung đội kiềm chân đại đội bảo an vòng ngoài, bắt chúng phải tự đối phó, bỏ trống chỉ huy sở tiểu đoàn cho chúng tôi làm thịt.
Tôi cùng trung đội 3 Trung đội trưởng Trần Quốc Thăng (quê Gia Lâm-Hà Nội) nhận nhiệm vụ độc lập: Ði vòng ra sau cứ điểm của địch, chốt chặn không cho tàn binh chạy về thị xã Kon Tum.
Khoảng 8 giờ tối ngày 27-10-1974 các mũi tiến quân cuả ta đã đến giáp hàng rào chỉ huy sở địch đào hầm. Trinh sát dẫn đường cùng chúng tôi vẫn mải miết cắt rừng về phía sau chốt địch. Khoảng 10 giờ đêm, có tiếng lựu đạn nổ trên chốt, hình như quân ta vướng phải mìn, nếu lộ ra, địch xẽ câu pháo đến, trong khi đó chúng tôi vẫn còn lang thang trên mặt đất như thế này.
Trung đội tôi chốt trên sườn đồi, ở đây cây rừng mọc nhiều tầng nhiều lớp. Trinh sát tiểu đoàn chỉ hướng cho chúng tôi phục kích sau đó quay về địa điểm xuất phát. Phía lên dốc trước mặt là chốt địch, sau lưng là sườn đồi thoai thoải chắc có một con đường chạy về thị xã Kon Tum.
5     giờ sáng ngày 28 -10 - 1974 cối và DKZ của ta đồng loạt bắn lên cao điểm. Hoà cùng tiếng nổ ầm ầm ấy, pháo của địch từ các hướng cũng nhất loạt câu về. Không phân biệt đâu là đạn ta, đâu là đạn địch, chỉ thấy phía trước tiếng nổ như quyện vào nhau.
Pháo địch từ phía sau câu đến, qua đầu chúng tôi tầm đạn đã xuống rất thấp, qủa đạn xé không khí vụt qua réo ù ù.
Gần 10 giờ trưa, không thấy súng nổ trên cao điểm. Phía trước mặt, pháo địch vẫn không ngừng bắn lên dông đồi, tiếng nổ nối thành dây trên chốt, hay là chúng nó thất bại, huỷ trận địa đi rồi.
Ðứng dưới hầm, chúng tôi căng mắt tìm địch, bỗng có tiếng người lao sao lại gần, qua kẽ lá, mấy bóng đen loang loáng.
Ðịch, địch! Tằng tằng, cắc bụp.
Trần Quốc Thăng nhanh tay lia một băng đạn, chiến sỹ M79 vội vàng bắn phóng lựu nhưng tầm gần quá đạn không nổ.
Hai bóng đen ngã bật ngửa ra rừng và hét lên: Ta ! Ta !
Chúng tôi nhảy khỏi hầm:
 - Ði đâu mà không gọi, không nói gì thế!
 -Nói thế còn nói thế nào nữa!? Ði gọi chúng mày về mà còn bắn cái con c...người ta!
-Thôi, thôi! Không cãi nhau nữa, hai ông có ai việc gì không?
Người trinh sát đi đầu là Nguyễn Văn Tá - Quê Vĩnh Tường-Vĩnh Phúc khoác khầu AK trên vai, tay phải đặt lên ốp tay trên, loạt đạn bắn, bay ốp che tay dưới mà không hề sứt sẹo. Luồng đạn bay sát da bụng, áo bám khói đen xạm lại.
Tôi bảo: Quân ta không chiến thắng quân mình là may lắm rồi! Mình rút chứ! Hai chiến sỹ trinh sát hình như vẫn còn bực mình, họ không nói gì cả, lầm lũi quay về đi như chạy. Sợ lạc đường, chúng tôi cố bám đuổi theo.
Lên đến đỉnh đồi, pháo bắn loang lổ tan tành từng khoảng rừng, cây đổ ngang dọc. Các đơn vị trong tiểu đoàn đang rút quân, mạnh ai nấy chạy lục tục xuôi theo dông đồi. Pháo địch vẫn đang cay cú bắn ùng oàng phía trước, có ai đấy kêu lên: Ong đốt các bố ơi! Chạy nhanh lên!
Ðến vị trí đào hầm dưới chân đồi, tự nhiên pháo ngừng bắn. Mạnh (Hạ Hoà-Phú Thọ) bảo: Một thằng thông tin nguỵ đeo PRC chạy đến đâu là gọi pháo bắn đuổi theo đến đấy! Mình bắn chết thằng thông tin ấy, thế là pháo địch tịt luôn!
Tôi nhảy xuống hầm, Bích (Hải Phòng) bảo:
Tròn ( Vô Tranh , Hạ Hoà - Phú Thọ) và Quân chết rồi, ông đã biết chưa?
-Chết ở chỗ nào ?! Liệt sỹ hiện nay để ở đâu rồi!
-Thằng Bình chạy qua vẫn thấy Tròn tay bịt mặt kêu cứu, lúc quay lại thì nó thấy đã chết rồi! Hình như cối 82 của thằng C8 bắn đuối tầm, đít quả đạn nằm cạnh hai liệt sỹ của mình. Kìa, đang cáng về kia kìa!
Tôi chạy lên, Quân bị một mảnh đạn cắt ngang mặt trong khuỷ tay trái, trên người lăm nhăm mảnh đạn, máu chảy đẫm ngực áo. Tôi tháo ví lấy toàn bộ ảnh và kỷ vật, hy vọng có ngày quay trở về trả lại cho gia đình Phạm Hồng Quân.
Tròn bị mảnh đạn bay mất một bên mắt phải, vừa mới hy sinh, sờ lên người còn mềm và nóng. Tôi đang bóp tim hồi sức cấp cứu cho tròn thì pháo bầy của địch lại câu đến, nhảy đại xuống căn hầm bên cạnh:
-Ông nào đây! lên đi! Ông nào đây, tránh ra, hầm tù binh!
Tù binh hay không thì cũng giữ lấy gáo đã, hết đợt pháo bầy, tôi leo lên khỏi hầm đã thấy quân vận tải lục tục cáng thương binh và liên sỹ về vị trí tập kết.
Về đến nơi, thấy quân tướng mặt mày sưng húp cả. Ông Oanh bị mấy mũi châm vào tay, ông Lợi chính trị viên phó mặt méo một bên, tay trái bị ong đốt sưng tấy, y sỹ tiểu đoàn Nguyễn Kiến Ðào (Hiện nay là viện phó bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái) đang tiêm thuốc giảm đau. Có chiến sỹ bị ong châm không mở nổi mắt. Tôi hỏi tổ ong ở chỗ nào, họ bảo trên đỉnh dông đồi, pháo bắn trúng tổ ong đất (Ong bầu lỗ ), bộ đội chạy qua thế là nó túa ra đuổi theo. Tôi chạy ngay sau ông Lợi mà không bị châm mũi nào.
Lũ tù binh cứ hai thằng trói vào với nhau bằng dây dù, ngồi tụm ở ven rừng. Tên thiếu tá Nhân tiểu đoàn trưởng và một sỹ quan tâm lý chiến, một quân y sỹ bị đưa ra hỏi cung sơ bộ.
Hắn nói: Chập tối hôm ấy tự nhiên tôi thấy hai bên tai nóng như lửa, trong người bứt dứt không yên. Khoảng hơn 8 giờ tối, sỹ quan tác chiến báo cáo có hiện tượng không bình thường quanh khu vực đóng quân. Tôi cầm máy báo về trung tâm hành quân, trung tâm trả lời: Bên ngoài các anh còn có 3 đại đội chốt chặn, hai nữa ở đây xa hậu cứ của cộng sản, các anh cứ bình tĩnh đi! Hơn 10 giờ tối, có tiếng US nổ trong hàng rào ( Hướng đại đội 5 bị vướng lựu đạn gài) thực ra cũng có nhiều khi cành cây khô gãy đổ hoặc chồn thú đi qua làm nổ mìn. Ðể cho thật an toàn, tôi xin pháo bắn xung quanh căn cứ từ 500 m trở ra. Gọi sang các trận địa pháo, họ bảo: Ðêm tối rất khó căn chỉnh tầm hướng thật chính xác, sợ bắn nhầm vào các đại đội đồn trú bên cạnh. Càng về khuya, tiếng động càng rõ hơn, tôi báo động cho 3 đại đội bảo an có kế hoạch ứng cứu. Sáng hôm sau thì tất cả chúng tôi đều bị pháo kích.
Chôn cất liệt sỹ xong, ngay chiều hôm ấy chúng tôi rút quân. Trinh sát dẫn lũ tù binh đi với nhau, mấy ngày hành quân chúng nó cũng phải có nồi để nấu cơm. Một trinh sát tiểu đoàn bảo:
- Mày là tiểu đoàn trưởng ăn bơ thừa, hộp cặn của Mỹ nhiều rồi hôm nay phải đeo nồi!
Tên công vụ vội vàng đỡ lấy.
-       Này thằng kia! Từ hôm nay mày với nó bằng nhau, để đấy cho nó!
Anh ta buộc luôn chiếc nồi quân dụng vào lưng ngài tiểu đoàn trưởng, cả lũ tù binh nửa buồn cười nửa sợ, Bộ đội lần lượt dẫn chúng quay về hậu cứ.
-----------------------------------------------------------------------------
Lâm Thao Ngày 02 Tháng 1 2 Năm 2007
Hoàng Kim Hậu
------------------------------------------------------------------------------

TRUYỆN KÝ:Phần 2

Chiến dịch mùa xuân năm 1972

Chiến thắng ÐắcTô-Tân Cảnh

Sau năm 1970 mặt trận phía bắc KON-TUM ta mới giải phóng được cao điểm 1015 (Ngoc-Rinh-Rua, Ngọc-Bầu-Biêng). Năm 1971 giải phóng tiếp sân bay Kà-Leng và một vài trận đánh lẻ đánh địch nống ra ngoài. Sang năm 1972 lực lượng của địch cơ bản không mấy thay đổi: Phía tây là cụm cứ điểm Pờ-Lây-Cần, tây bắc có căn cứ huấn luyện biệt kích Ðắk-Xiêng án ngữ. Phía bắc và đông bắc có cứ điểm Ðắk-Mót và cụm cứ điểm Ðắk-Pét chưa kể các chốt cấp đại đội và các trận địa pháo bố phòng ứng cứu lẫn nhau.Thị trấn Tân Cảnh là trung tâm kinh tế, xã hội, căn cứ hậu cần cung cấp cho dân và các điểm chốt toàn khu vực. Phía bắc Tân Cảnh là quận lỵ Ðắk-Tô, bên kia cầu Tân Cảnh đường 18 đi Ðắk-Mót là căn cứ 42 nơi đặt chỉ huy sở của trung đoàn 44 và sở chỉ huy sư đoàn 22 nguỵ. Phía ta trung đoàn 66 vẫn nắm chặt địa bàn hoạt động của mình. Ðầu năm 72 trung đoàn 95 được điều động từ đèo Măng-Giang lên án ngữ phía tây nam thị xã Kon-Tum .Ngoài các đơn vị chủ lực, ta còn có lực lượng bộ đội địa phương của tỉnh phối thuộc chiến đấu. Năm 1972 kết hợp cùng mặt trận Quảng-Trị ta mở chiến dịch Ðắk-Tô,Tân-Cảnh. Ngoài các đơn vị chủ lực có trên địa bàn, ta điều thêm sư đoàn 320 từ nam Lào về kết hợp tác chiến. Mục đích giải phóng quận lỵ Ðăk-Tô và thị trấn Tân-Cảnh, có điều kiện đánh xuống Diên-Bình,Võ-Ðịnh, giải phóng thị xã và toàn tỉnh Kon-Tum. Chúng tôi ăn tết trước trong hậu cứ Kà-Leng, bổ xung quân, nhận thêm súng đạn, quân tư trang và nhằm phía đông bắc hành quân. Ðường vào chiến dịch thật sôi động, các đơn vị hành quân theo kiểu cuốn chiếu, đơn vị này nghỉ thì đơn vị khác vượt lên. Ðánh lớn hợp đồng binh chủng nên có cả những đơn vị tên lửa B72 đi cùng. Hầu như những thằng lính mới cùng vào một đợt với tôi đều gặp nhau cả, hỏi thăm tíu tít. Qua đồng đội tôi được biết (Lượng thỏ) đánh Kà-Leng bị gãy chân đã được ra bắc, thôi thế là may cho nó, chắc sống một thằng rồi, còn lại chúng ta- tính sau vậy. Ðường hành quân cứ xuyên rừng mà đi, qua cánh rừng nguyên sinh cây cối ngút ngàn, đất xốp lên bởi biết bao nhiêu lớp lá cây rụng thành trầm tích. Có những cây cổ thụ hàng ngàn năm tuổi, cành lá vươn cao trong bầu trời xanh thăm thẳm. Chúng tôi đi trong tiếng hú của bầy vượn gọi nhau ăn sáng và dừng chân khi lũ vượn hú gọi tụ bầy. Có những địa danh không có trong bản đồ mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu: Qua dốc có nhiều cây búng báng thì là dốc búng báng.Có con voi chết thì gọi là dốc voi mục hoặc suối trực thăng rơi�Khổ nhất những đơn vị pháo hoả lực, tất cả là trên vai người lính: Ngoài gạo nước quân trang của họ còn phải khênh vác súng đạn:Cối, Pháo tháo rời chia nhau từng chi tiết, cái gì không chia được thì tập trung khiêng. Cối 160 ly một người đeo củ đấm, ba người khiêng nòng, còn chiếc bàn đế thì khỏi phải nói: Nó to bằng chiếc nong phơi lúa, vừa đi vừa phát đường, lên dốc thì sáu người khiêng lặc lè, xuống thì dùng đòn bẩy mà bắn. Sau mười ngày hành quân chúng tôi dừng lại ở một dông đồi khá cao. Phía trên đại đội tôi ở là tiểu đoàn bộ đóng quân.Phía trước đã nhìn thấy mái tôn sáng loá của căn cứ Ðăk-Xiêng.Thụ bảo: Mày sang dông bên phải chỗ anh nuôi ở nhìn thấy cứ điểm Pờ-Lây-Cần đấy! Vậy con đường chúng tôi đang đi xuyên qua hai cứ điểm của địch.Tìm chỗ đào hầm xong, Huy bảo:ở đây dốc thế này đào hầm khoét cho tiện, cứ ba người một hầm. Anh Thụ lên đại đội hội ý về tôi mới hiểu: Ðơn vị chia thành từng cung đoạn vận chuyển lương thực, súng đạn vào phía trước. ở đây rất gần hai căn cứ của địch cho nên yếu tố bí mật địa điểm đóng quân phải đưa lên hàng đầu. Nhiệm vụ của chúng tôi là:Ba giờ chiều nhận hàng của đơn vị bạn chuyển đến, đóng hàng xong đến năm giờ chiều gùi ra bờ sông Pô-Cô là vừa tối để vượt sông. Ði khoảng hơn một tiếng là đến kho bàn giao cho đơn vị bạn xong rồi quay về. Ðến nhà khoảng mười một giờ đêm, xuống bếp anh nuôi lấy cháo về, ăn xong rồi đi ngủ. Ngày mai lại tiếp tục, không ai được nghỉ gùi. Chúng tôi cứ tuần tự như thế mà làm,hôm thì tôi gùi gạo, hôm gùi đạn hoặch thuốc nổ. Có lẽ không một quốc gia nào có một đội quân anh hùng như quân đội nhân dân Việt-Nam. Họ thì binh chủng nào theo binh chủng đó: Không quân chỉ biết không quân, xe tăng thì cứ xe tăng mà tiến. Còn bộ binh thì hành tiến dưới sự yểm trợ của hoả lực các loại.
Chúng tôi thì không: Cái gì cũng từ tay người lính: Ðói thì phát nương làm rẫy, quần áo rách thì vá mà đánh giặc, hết gạo, hết đạn thì gùi về mà ăn, mà bắn địch. Xe tăng, pháo binh, quân y cũng như nhau mà thôi.
Ðịch đã phát hiện dấu hiệu chuyển quân của ta, chúng tung những nhóm biệt kích, thám báo cắt rừng về phía đường vận chuyển. Một lần nhóm biệt kích gặp đoàn gùi của C5 hai bên bắn nhau, ta hy sinh một và địch cũng chết một tên.
Pháo địch bắt đầu bắn vào đường vận chuyển, lũ thám báo chỉ cần phát hiện ra một đoạn đường là chúng chấm toạ độ gọi pháo câu đến khá chính xác máu chiến sỹ ta đã đổ trên từng cung đường vận chuyển.
Một hôm tôi gùi quả đạn cối 120 ly, kể cả liều phóng phụ và hòm gỗ nặng khoảng hơn hai mươi cân.Vượt sang bờ sông bên kia đi khoảng hơn một tiếng, pháo địch không hiểu sao câu đúng đội hình của ta, giáp kho đạn.Tiếng đạn rít trên đầu kèm theo tiếng nổ chát chúa và mảnh bay lắc cắc. Ðêm tối như bưng, tiếng người phía trước lao sao bước vội trên lá mục, tôi chỉ còn biết sờ xuống sườn đồi, mắt căng ra, chỗ nào tối xẫm không có vệt lân tinh bám trên lá mục là con đường dẫn vào kho đạn. Lại một tiếng rít ghê người, tôi nằm xấp xuống, hòm đạn dập xuống lưng, ngực tôi va vào một khúc gỗ đau điếng. Phía trên dốc toé lửa kèm tiếng nổ nhức óc, vẫn chưa chết !Tôi nhổm dậy mò mẫm tìm vào kho đạn.
Ngày hôm sau một toán biệt kích cắt rừng gần chỗ đại đội tôi đóng quân, gặp đơn vị bạn đi gùi về hai bên bắn nhau dữ dội, địch chết một và một tên bị thương.Tiểu đội tôi được lệnh xuất kích.
Chờ trinh sát tiểu đoàn xuống, chúng tôi theo bản đồ cắt rừng đi về phía một bản dân tộc bỏ hoang.Trinh sát đi đầu, cách nhau ba mét là Thụ, sau nữa là Huy, tiếp đến tôi B40 và sau cùng Thấu. Cắt ra một con đường xe ngựa bỏ lại từ hồi Ngô-Ðình-Diệm, chúng tôi lần dần vào bản.
Phía xa thấp thoáng bóng cây ăn quả, chắc là xắp đến bản rồi.Trinh sát vẫy tay ra hiệu cúi thấp người xuống, pháo địch bắn vu vơ sang sườn đồi bên sông.Tôi cúi được một lúc mỏi lưng lại nhổm lên,Thấu đi sau quát nhẹ:- Cái thằng này! Thấp người xuống!
Có vết dày nguỵ in trên nền đất ướt, một vệt cỏ rạp xuống như có ai lê trên đất, thế rồi một cuộn bông băng Mỹ vứt lại trên mặt cỏ máu còn tươi nguyên.
Mặt ai lấy biến sắc, địch rồi ! đi thưa ra! Người ta nhớn nhác tìm kiếm hai bên, tôi cứ như người đánh trận giả, đã biết đánh nhau với biệt kích là thế nào đâu! Thay cho tìm địch, mắt tôi cứ ngước lên ngọn cây xem cây xoài nào nhiều quả, cây mít nào có quả thấp để tý nữa hái mang về cho tiểu đội.
Ði tiễu biệt kích như thế này kể ra nguy hiểm thật. Rõ ràng địch còn nằm trong bản, có thể do có thằng bị thương nên chúng nín thở tránh chúng tôi để chờ trực thăng bốc về hậu cứ. Còn như chúng chủ động hoàn toàn :Sáu thằng nguỵ nằm chờ sẵn-Sáu ông Việt cộng từ ngoài bản đi vào ngơ ngơ, ngác ngác chờ đến thật gần chỉ cần một băng đại liên là ăn đủ.
Có lẽ nghĩ thế nên chẳng ai muốn xông xáo làm gì , tốt nhất là về báo cáo không tìm thấy.Thế là chúng tôi rút quân! Ði ra khỏi bản tôi cứ tiếc cho chùm xoài ngon mà không ai cho dừng lại.
Mấy hôm nay pháo địch bấn vô tội vạ vào khu vực chúng nghi ngờ, bom đánh vào ven sông, đã có nhiều chiến sỹ hy sinh. Pháo từ Ðăk-Xiêng bắn vọt qua đầu chúng tôi nổ ình oàng phía sau dông đồi tiểu đoàn đang ở.Thỉnh thoảng đâu đó lại nghe tiếng trực thăng lạch phạch như đang đổ quân hay bốc biệt kích chuyển đi chỗ khác.
 Dạo này tôi lại sốt, những cơn sốt về chiều nhiều khi phải bỏ buổi không đi gùi được. Một hôm đại đội gọi tôi, Nguyễn Quốc Kỳ( cùng quê, cùng nhập ngũ với tôi) và Thấu mang toàn bộ trang bị lên chốt trên đỉnh đồi tiểu đoàn đang ở.Trên đó có một con đường mòn vắt qua dông đồi ngay cạnh tiểu đoàn bộ đóng quân. Không biết đường của ta hay đường của biệt kích, vết người đi lại thường xuyên và còn rất mới.Tốt nhất cho một tổ chiến sỹ ốm yếu lên chốt chặn là an toàn nhất.
 Chúng tôi lịch kịch lên cao điểm.
Trên điểm cao gió rất mạnh, trời mùa đông lên cao càng lạnh, gió hun hút làm ngả nghiêng lá cây chao đảo. ở đây toàn cây cổ thụ, cành lá vươn dài cao đến ba, bốn chục mét. Ðất ẩm mục, xốp ra, bước lên xồm xộp như đi trên nệm cỏ.
Thấu chỉ cho tôi và Kỳ mỗi thằng cảnh giới một hướng sau đó quay về một gốc cây to dưới sườn dốc: Thấu bảo:- Chú ý cảnh giới đấy! Có gì xuống đây báo cho tôi, lúc nào cần thay gác thì gọi!
Chúng tôi thay nhau cảnh giới, nghe pháo bắn tam toạng tôi bảo Thấu tranh thủ khoét một chiếc hầm nhỏ dưới gốc cây phòng khi phaó bắn.Tôi và Kỳ đem thêm vỏ chăn lên để quấn cho đỡ lạnh, ngày vẫn ba nắm cơm một bi đông nước hành quân lên điểm chốt.
 Buổi sáng ngày thứ tư ngồi dưới một gốc cây rất to có hàng rễ bạnh ra, tôi ôm B40 ngước cổ xem một đàn vượn kiếm ăn ngay trên đỉnh đầu. Con đầu đàn vô tư nhảy múa, chum miệng hót gọi bầy. Giá như ở trong hậu cứ thì mày chết ngay với bố rồi con ạ! Tôi nghĩ bụng.
 Bỗng có một loạt tiếng Miền nam cất lên:- ở đơn vị nào? Ðơn vị nào nói đi!
Mặt tôi biến sắc, một toán người nam có, nữ có, vừa kinh lại vừa thượng đang túm xung quanh Kỳ. Không hiểu nó ngủ gật hay làm cái gì để địch đến tận nơi mà không biết! Trong đầu nghĩ ngay là gặp địch rồi, toàn quân Miền nam cả . Tôi chĩa khẩu B40 về phía địch quát to:
 - Tất cả đứng lại! Giơ tay lên!
 Ðoàn người thất kinh khi thấy khẩu B40 lăm lăm chĩa về phía họ:
 - ấy ấy không được bắn- Không được bắn!
Một người đi đầu cầm súng AR15 vừa xua tay vừa tiến lại phía tôi.
Dừng lại! Tôi ra lệnh-Tất cả bỏ súng xuống! Ai còn tiến thêm bước nữa tôi bắn chết!
 Ðoàn người lập cập bỏ súng xuống giơ tay xin hàng. Lúc đó Kỳ vẫn lóng nga lóng ngóng đứng lẫn với đội hình của địch.Thế có chết hay không! Nếu tôi nổ súng chắc nó cũng tiêu đời còn gì.
 Tôi quát:
-Kỳ! Mang súng chạy lại đây nhanh lên!
Cầm khẩu AK trên tay tôi mới thật yên bụng, dồn toán người ấy tập trung vào một góc, tôi bảo Kỳ thu súng địch gom lại, tháo hết đạn và cho Kỳ chạy xuống tìm Thấu.
Một lúc sau Thấu lập cập chạy lên, mặt tái mét, hắn nhìn thấy toán người đã hiểu ra sự việc vội vàng quay đầu về báo cho tiểu đoàn bộ.
 Khoảng ba mươi phút sau Thấu đẫn một phái đoàn gồm ban tác chiến, ban chính trị và ban tham mưu lên làm việc. Sơ bộ ban đầu họ khai là đoàn cán bộ dân vận huyện 40 đi công tác qua. Con đường này là đường nối giữa huyện 40 với tỉnh uỷ tỉnh Kon-Tum, là đường của ta chứ không phải đường của địch. Dù sao cũng mời họ về tiểu đoàn để xác minh lại.
 Thấu là một chàng xấu trai lại háu gái- Thấy cô bé người thượng mũn mĩm ngồi cạnh chiếc gùi, Thấu bảo:
- Có hút thuốc không?
 Từ ngày bé hôm nay mới Thấu sởi lởi như vậy. Tưởng rằng cô ta chỉ vê một điếu nhỏ để hút là cùng. Ðàng này đồng bào lại bảo : Cho mình xin-Và thế là tiện tay túm luôn một nắm bỏ vào túi.Thấu tiếc đứt ruột, cho chết, đã keo kiệt lại còn sỹ!
Hôm sau chúng tôi lục tục xuống núi, kết thúc một tháng vận chuyển đảm bảo hậu cần cho chiến dịch . Chúng tôi được nghỉ vài ngày chuẩn bị súng đạn, quân tư trang và tắm giặt. Một tháng đi gùi hầu như chỉ tắm theo kiểu du kích, giao hàng xong quay ra bờ sông vừa lội, vừa giặt lại vừa tắm.Vắt khô quần áo, chùm lên đầu về đến nhà là gần khô. Cái lũ bẩn ở với nhau chẳng ai chê ai hôi cả.
Lệnh hành quân, đơn vị vượt sông đầu tiên vào lúc chạng vạng tối, chúng tôi cứ nhằm giữa hai chốt địch mà đi. Có điều rất lạ là khi chúng tôi ở bên này sông thì pháo địch bắn dữ dội vào phía bờ bên, khi sang đến nơi thì pháo chuyển làn sang hướng khác, để lại những vạt rừng cây cối bị phạt trơ ra và mùi khói pháo khét lẹt.
Ba ngày luồn rừng, hai căn cứ của địch đã ở phía sau, nghe đâu chỉ hai ngày nữa là đến Tân Cảnh. Các đơn vị tản theo đội hình, củng cố hầm hào chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.
Không khí đại đội rất căng thẳng, một ngày không biết bao nhiêu lần hội ý. Ðoàn cán bộ tham mưu, tác chiến của trung đoàn và tiểu đoàn chuẩn bị đi khảo sát địa hình và nắm tình hình địch. Các đại đôi có đại đội trưởng và ba trung trưởng đi trước.Chúng tôi ở lại tiếp tục làm thao trường huấn luyện.
Sau một tuần nghiên cứu địa hình, tiểu đoàn đắp xa bàn cát, giao nhiệm vụ cho các mũi tiến công. Lúc đó tôi mới thấy nhiệm vụ đại đội mở cửa là vô cùng quan trọng. Không phá được hàng rào, không đánh chiếm được lô cốt đầu cầu để đơn vị bạn phát triển vào bên trong coi như là thất bại, là tổn thất rất lớn. Nhìn trên sơ đồ thấy địa hình bằng phẳng, lần đầu tiên đánh thành phố, đánh vào trận địa bố phòng kiên cố của địch chắc là ác liệt lắm.
Hàng ngày tiểu đoàn trưởng Bùi-Thanh-Hiêm người Thanh-Hoá xuống đại đội tôi theo dõi bộ đội tập trên thao trường. Ðó là một tiểu đoàn trưởng đầy nghị lực, quyết đoán và cũng rất nóng nảy. Anh đã từng chui vào hàng rào của địch, bò theo hướng tiền nhập của đại đội tôi, chỉ cho chúng tôi biết từng mô đất, từng bãi lầyvà khi bò lên mặt đường 18 nấp sau tà luy đường và leo lên hàng rào kẽm gai như thế nào. Nhìn trên xa bàn, nghe tiểu đoàn và đại đội chỉ dẫn tôi cũng mường tượng ra nhiệm vụ của mình. Một hôm anh Hiêm đang giảng trên xa bàn và hỏi tôi:
-Thế nào, đồng chí xạ thủ B40? Bắn mấy phát thì hạ gục lô cốt đầu cầu này?
 Tôi không đắn đo:
-Báo cáo thủ trưởng- Chỉ một phát thôi ạ!
-Ðược-Nhưng căn cứ vào đâu mà đồng chí khẳng định như vậy?
-Thưa thủ trưởng- Gần một năm vác B40 nếu tôi không bắn tin cái lô cốt to như thế kia thì tôi không phải là người lính của K8!
Khá lắm-Nhưng tôi nói trước:Vào trận nó không bình tĩnh như tập trên thao trường đâu, xung quanh pháo bắn, đạn nổ, phải biết vận dụng thực tế, lợi dụng địa hình để hạ gục mục tiêu và bảo vệ được mình, nhớ chưa!
Cho đến nay tôi vẫn nhớ câu nói đó.
Cuối tháng 3 năm 72 chúng tôi nhận lệnh vào phía trước, rừng ở đây toàn vầu và nứa, con đường thì lên dốc liên tục, đã có vết pháo bắn tới đây. Ðại đội ém quân ở một dông đồi nghe nói khi vượt sang bên kia là nhìn thấy quận lỵ Tân Cảnh đèn nê-ông sáng quắc.Thế là xắp xuống đồng bằng rồi, từ đây đánh tiếp thị xã Kon-Tum và chúng tôi vĩnh viễn chấm dứt cảnh ở rừng , ở núi.Tôi chỉ mong như vậy.
Ðã nghe tiếng đề-pa của khẩu pháo rất gần, có lúc nòng hướng về phía khác thấy tiếng nổ rất xa, vọng ình oàng vào núi. Có khi ba, bốn khẩu quay về phía chúng tôi nghe đạn bay vo vo như đàn ong trên đầu và nổ nối tiếp nhau thật đáng sợ.Có lẽ quân ta ba bên bốn bề đang tới gần, liệu có cánh nào bị lộ chưa? Máy bay quần đảo, rà sát các khu rừng quanh quận lỵ, tiếng trực thăng lạch phạch hướng thị trấn, có lẽ thằng địch đã thấy đấu hiệu không bình thường ở mặt trận này rồi.
Vừa đào xong hầm lại có lệnh quay ra.Thế có chết không, làm ăn kiểu này có mà nướng quân, có định đánh hay thôi không biết.Tôi đã muốn nổi cáu, tức nhất là cái kiểu quay vào quay ra như thế này, bom pháo nó tương phải thì chết cả lũ.
Ra đến vị trí cũ thì đóng quân, anh Hậu bảo: Các hướng khác còn vướng chưa vào kịp, để đảm bảo bí mật cánh bên này phải chờ vì đây là trận đánh lớn, hiệp đồng binh chủng.

Trận đánh đầu tiên

 Sáng ngày 06- 04-1972 chúng tôi lại quay vào vị trí trú quân hôm trước. Ngay tối hôm ấy mỗi tiểu đội chọn một chiến sỹ nhanh nhẹn, tháo vát đi nhận vị trí và đào hầm cho tiểu đội.Tôi được nằm trong số đi tiền trạm ấy.
Loanh quanh leo lên đỉnh dốc trời đã nhá nhem tối. Phía trước là một thung lũng rất rộng, gió thổi thốc lên, mát lạnh.Thị trấn Tân Cảnh khuất sau một dông đồi chỉ thấy ánh điện hắt lên sáng quắc. Con đường 14 lúc ẩn lúc hiện khi có một chiếc xe bật đèn chạy qua.
Chúng tôi bám theo nhau xuống dốc, sườn đồi thoai thoải có rất nhiều khe cạn. Cắt xuôi theo đường 14 ra phía thị trấn, qua hai con suối bờ rất dốc, chúng tôi dừng lại.
Người ta thì thào gọi nhau coi như gần địch lắm rồi, trinh sát tiểu đoàn dẫn các đơn vị vào vị trí của mình, tiểu đoàn bộ ở bờ suối bên này, chúng tôi ở phía bên kia suối.
Nhận vị trí đào hầm xong, anh Thụ (lúc đó đã là trung đội phó) phổ biến: -Mỗi người phải hoàn thiện hầm cho tiểu đội- Phải làm hầm kèo không được đào hầm khoét- Chú ý dùng cưa cắt gỗ, ngọn cây kéo ngay xuống đất không để địch phát hiện thấy có lá vàng, đảm bảo bí mật tuyệt đối!
Phía trên thấy có ai đó vội vã húc hầm, tôi san một vạt đất bằng phẳng rồi trải tấm tăng ra nằm. Có mấy quả pháo ro ro bay qua đầu rồi nổ phía sau dông đồi, pháo sáng thỉnh thoảng lại bắn lên hắt ánh sáng vàng ệch xuống khu rừng vắng lặng. Phía bên kia quận lỵ Ðăk Tô có chiếc C 130 thả đèn dù, phóng xuống mặt đất những chùm đạn 20 ly đỏ rực. Lâu lắm mới nằm tênh hênh trên mặt đất như thế này, kể ra gáo cũng thấy lành lạnh thật.
 Tôi đánh một giấc, tỉnh dậy khi tia nắng vàng phớt nhẹ trên ngọn cây, tìm xuống bếp anh nuôi lấy cơm và đóng nước Anh nuôi bảo: Chưa có đâu, cứ về đào hầm đi, khi nào chín cơm xẽ gọi!
 Tôi về mở xẻng húc hầm, trên miệng hầm tôi đào rộng khoảng 1m, dưới đáy khoét rộng dần ra cho đủ 4 người nằm. Một ngày thẳng dẳng mới xong phần đào đất. Ngày thứ hai lên rừng chọn cây đà và cưa kèo hầm,loanh quanh một mình vừa hạ cây vừa lấp, tối lúc nào không biết.Thôi dù gì cũng đã có hầm, đêm nay thao hồ cho chúng mày câu pháo.
Tôi yên trí phần việc của mình đã xong chỉ còn chờ quân ta đến là xuât kích, đêm nay chắc được một giấc ngủ ngon lành, không sợ bom pháo gì cả.
Khoảng ba giờ chiều hôm sau có một người đeo gùi tìm đến. Anh ta tự giới thiệu tên là Pồn người Nùng tỉnh Cao Bằng. Anh về làm trung đội trưởng của tôi từ khi chúng tôi vượt dốc sang bên này, trước kia ở đại đội vận tải của trung đoàn nay bổ sung về C6 .
Vừa ăn cơm chiều xong thì nhận lệnh xuất kích: Có một đại đội bảo an Nguỵ ngày mai xẽ hành quân chiếm lĩnh đỉnh đồi mà chúng tôi đang ở. Ðịch trên đỉnh, chúng tôi lại ở dưới chân đồi chắc xẽ lộ hết vị trí và hướng tiến quân của ta.Thế là ngay đêm đó đại đội có hơn mười người tức tốc lên chiếm cao điểm.
Trinh sát dẫn đường, chúng tôi xuyên rừng trong tầm pháo và ánh hoả mai. Lên cao nhìn rõ quận lỵ Ðăk-Tô với ánh đèn xanh biếc: Vài hôm nữa chúng tao xẽ ở trong ngôi nhà kia, bọn mày hãy đợi đấy!
Trên đỉnh đồi là một rừng cây thưa,� xen lẫn những bụi tế và bụi mua đã tàn lụi. Có rất nhiều hầm biệt kích đào từ bao giờ, chúng tôi chỉ việc sửa sang, nhặt mấy gốc cây khô lát lên trên và phủ đất rồi chia nhau gác
Sáng hôm sau trung đoàn cho biết địch đã chiếm dông đồi đối diện bên cạnh, từ đỉnh đồi của tôi qua một yên ngựa là đến, địch đã phát hiện chúng tôi và cụm lại phòng thủ. Tiểu đoàn lệnh cho C6 tổ chức bám địch. Anh Pồn lo lắm, một mình cắp súng tuần tra bên này lại sang bên kia chốt. Khoảng10 giờ anh ôm súng ngồi xuống cạnh hầm, tôi bảo:
-Ðã biết địch nó ở bên kia rồi, mình bám chặt lấy hầm, nó lên là ta đánh, anh cứ đi đi lại lại mãi, nguy hiểm lắm!
 Anh Pồn bảo:
-Ông cứ chú ý cảnh giới đi! Tôi lo hơn ông nhiều!
Khoảng hơn 10 giờ anh lại lúi húi cắp súng đi về phía yên ngựa, bỗng một loạt cực nhanh bắn đến, đạn nổ toác toác chiu chíu vào điểm chốt. Anh Pồn gặp địch rồi, chúng tôi nhảy xuống hầm sẵn sàng chiến đấu.
Nghe có tiếng người lao sao một chút rồi không gian vắng lặng, địch không bắn sang và chúng tôi cũng yên lặng chờ địch. Pháo vẫn câu qua đầu chúng tôi, nổ ình oàng xa lắm. Một tiếng rồi hai giờ trôi qua không thấy anh Pồn đâu cả, sốt hết cả ruột. Tôi bảo anh Thụ trung đội phó:
Có khi anh Pồn bị thương hoặc hy sinh rồi, anh cho người bám địch và tìm anh ấy đi!
Anh Thụ tổ chức cho: Thiện ( Gia Thanh - Phù Ninh - PT )-Tiến cáo (Không rõ quê)- (Sự mới vào theo đoàn Hoàng Liên Sơn năm 72) đi bám địch. Họ vừa đi chưa đầy trăm mét bỗng có tiếng mìn nổ, một loạt cực nhanh bắn sang. Không thấy AK bắn trả, một lúc sau thấy Thiện tay phải ôm lấy tay trái, cánh tay rũ xuống. Tiến cáo vai khoác súng, hai tay cầm hai khẩu AK chạy về, mặt tái mét :
-Thằng Sự chết rôi! Ðịch địch!
Toàn chốt căng ra, chưa bắn được thằng địch nào mà quân ta đã hy sinh mất hai người, bị thương một rồi. Nhìn lại chỉ còn tám tay súng. Tôi thấy Thụ lo lắm, anh cho người hộ tống Thiện về phía sau và báo tiểu đoàn xin quân tăng viện.
Khoảng 3 giờ chiều, tổ trinh sát của tiểu đoàn lên bám địch, một lúc sau họ quay lại bảo:
 - Liệt sỹ của các anh nằm cách đây 50 m, cho người lên lấy về đi!
 Tôi, Thụ và một người nữa chạy lên, Sự nằm thẳng mắt vẫn mở, chiếc bi đông nước để ngay trên ngực.Vết thương bị mìn dập nát hai bàn chân bung ra những đốt xương trắng nhởn. Không ai cấp cứu, không người băng bó và ga rô lại, uống nước vào lại càng nguy hiểm, máu chảy mạnh thêm.
Ðêm hôm ấy tiểu đoàn tăng cường thêm số đi trước của C5 và C7. Một khẩu cối 82 của C8, một tổ trinh sát lên đánh bật quân Bảo an xuống.
Xẩm tối-C7 đi đầu sau đó đến C5 và C8, Trinh sát đẫn đường. Ðại đội tôi là đơn vị mở của hướng K8 (Ðánh chiếm căn cứ 42 Tân Cảnh ) ở lại làm thê đội hai.
Ðoàn người dò dẫm dắt nhau sang dông đồi bên, vừa đi vừa chờ lệnh, nhưng do tối trời địch gài rất nhiều mìn định hướng nên không tiếp cận được. Quay về, mai đánh!
 Sáng hôm sau, đội hình vẫn như chiều hôm trước, chúng tôi theo trinh sát dẫn đường, hàng một tiếp cận trên dông yên ngựa. Cối 82 bắn lên cao điểm, C7 và C5 áp sát nổ súng, tiếng B40 ùng oàng, tiếng AK điểm nhịp. Ðịch điên cuồng phản kích bằng mìn và súng các loại, tiếng nổ loạn xạ, đan vào nhau. Cùng lúc ấy, pháo từ Tân-Cảnh Ðắk-Tô đồng loạt bắn lên điểm chốt mà tôi đang giữ, tiếng nổ chắc nịch găm mảnh phạt ngang những ngọn cây cổ thụ.Tôi vừa thò đầu lên cảnh giới vừa thụt đầu tránh pháo khi nghe có tiếng đạn rít trên đầu. Súng nổ một chập rồi im hẳn- Không biết đã dứt điểm chưa- Vừa nghĩ xong đã thấy quân ta lục tục cõng nhau chạy về, một số hy sinh và bị thương. Pháo địch bắn càng dữ dội, Thụ bo đầu rúc trong hầm tránh pháo Tôi cứ nghe tiếng cối xoè xoè, tiếng pháo vút tới lại thụt vào trong hầm, chơi trò ú tìm với địch. Bỗng thấy Xuất-Trung đội trưởng C5 còn quay lại nhặt một khẩu AK của liệt sỹ, chạy về qua hầm tôi khoảng10 m. Hai tay tay vừa đu người xuống cửa hầm thì một quả pháo bắn trúng ngọn cây trước mặt, toé lửa, tôi thụt nhanh xuống hầm, ngớt pháo thò đầu lên đã thấy người ta đang kéo Xuất lên mặt đất, một mảnh pháo phạt bay mảng đầu, máu chảy lênh láng từ trên nắp hầm xuống đọng thành vũng dưới nền hầm.
 Ðánh không dứt điểm vì địch rất đông và hoả lực chi viện quá mạnh. Pháo địch lại thi nhau bắn lên cao điểm- Chết người đấy, không phải trò đùa- Từ đó tôi dựa vào góc hầm, không dại gì mà chơi với pháo!
 Tối hôm ấy, C5 và C7 rút về vị trí tập kết,� C6 của tôi ở lại giữ chốt. Lại một đêm nữa đội pháo và thức trắng đây!
Sáng hôm sau, đại đội bảo an địch rút về Tân Cảnh, chập tối chúng tôi cũng được lệnh bỏ chốt, kéo nhau xuống chân đồi.
Về đến hầm, ăn cơm xong là lăn ra ngủ, không còn biết pháo, cối gì nữa. Sáng 14-4 tôi dậy muộn, dự định lấy cơm ăn xong lại ngủ cho thật đã, bù lại mấy ngày thức trắng trên chốt, sau đó xuống suối tắm giặt. Có tiếng chân người đi trên nắp hầm, tiếng trung đội phó Thụ:
- Hậu dậy chưa? Xuống bếp lấy cơm ăn xong còn xuất kích!
- Lại xuất kích hả anh? Thế mình không đi tìm anh Pồn à?
- Ði tìm anh Pồn đấy! Chờ trinh sát xuống rồi đi. Chỉ cần đem theo 2 quả B40 thôi!
Tôi linh tính thấy có cái gì đó rất khó giải thích, nửa muốn đi, nửa không.
Nhóm chúng tôi gồm: Thụ (nhóm trưởng)- Lành (Thái Bình)- Tôi xạ thủ B40 và (Tiến cáo. ăn cơm tại bếp anh nuôi, tôi nhỏ nhất nên phải đeo thêm 4 nắm cơm, ít ruốc thịt để ăn trưa.
Ngồi một lúc thì thấy Quỳnh trinh sát tiểu đoàn, quê (Phượng Vỹ- Cẩm Khê-Phú Thọ) cùng nhập ngũ một ngày với tôi đi tới- Quỳnh bảo:
 - Quân mình đi tìm liệt sỹ phải không? Ði thôi!
Chúng tôi theo Quỳnh cắt rừng lên chốt. Loanh quanh trong rừng một lúc thì đến đỉnh đồi.Tự nhiên Quỳnh lúng túng rẽ sang bên trái đi về phía sau chốt, Thụ bảo:
 -Sao lại đi ra hướng ấy! Rẽ phải ra chỗ đánh nhau hôm qua ấy chứ!
 Quỳnh cũng miễn cưỡng quay lại, tự nhiên tôi sởn gai ốc, trong đầu loé lên hai tiếng: Mìn, Mìn! Lúc đầu đi cách nhau mỗi người 4m, tôi chỉ nghĩ mìn là chôn dưới đất, dẵm lên xẽ nổ, tôi vội tiến nhanh bám gần sát Lành, vết chân của Lành đặt vào đâu thì tôi bước vào đó. Bỗng: Oàng một cái, khói bốc ngay chân Quỳnh, tôi thấy Quỳnh sững lại, quay mặt về phía sau và ngã vật xuống. Thụ ngã bật ngửa, máu từ trong đùi phun ra đỏ lòm. Hai tay ôm chặt hai đùi, Thụ kêu lên: Hậu ơi, tao gãy đùi rôi! Lành đi trước tôi cũng ngã dúi xuống, không kêu một tiếng. Cùng như một lúc, tôi thấy luồng điện giật bắn trong người, hai chân mất phản xạ, tê đi, đầu gối khụy xuống làm cho khẩu B40 cùng quả đạn lao cắm xuống đất: Tôi cũng gãy đùi rôi! Tiến đâu, lên băng cho các ông ấy đi!
Tôi thấy có một dòng máu phun ra, nóng hôi hổi, chết cha rồi, đứt động mạch, phen này thì nghẻo! Tôi tụt ngay quần ra cúi xuống, vết thương ở giữa đùi trước bên trái máu đã chảy thành dòng xuống quá đầu gối, đũng quần ướt sũng nhìn kỹ không phải là máu, hay là mình đái? Tôi thử nín lại, may quá, không phải đứt động mạch! Tôi cầm B40 chống lên đứng dậy, tập tễnh chạy về hầm.
Một mảnh ngập sâu giữa đùi trái, hai mảnh còn lại xuyên từ trước ra sau mặt trong của hai đùi máu ra đầm đìa, một mảnh trượt qua cổ chân rớm máu và một xuyên qua áo cạnh sườn phải. Mảnh đạn vào làm tê liệt thần kinh, van không đóng được, nước giải cứ thế tuôn ra ngoài. Tự băng bó xong, nửa người bên dưới đau ê ẩm, có tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch phía trước, địch lên! Tôi dùng tay đẩy lưng dựa vào vách hầm đứng dậy. Thấy Tiến mặt méo xệch:
-Anh em chết hết cả rồi! Mày cố cảnh giới để tao về gọi người ta lên cứu!
Hai chân tôi đau điếng, dựa lưng vào vách hầm, tháo hai quả lựu đạn đặt trước mặt, chỉ có hai quả B40, địch mà lên thì đành liều chết với chúng nó vậy.
Tiến đi rồi, khu rừng càng vắng lặng, tôi nín thở cố lọc những âm thanh xào xạc để phát hiện tiếng chân địch mò lên. Anh nắng xiên xuống đỉnh đồi, lọt qua kẽ lá vẽ những hình loang lổ trên mặt đất. Không thấy ai kêu, họ nén đau để giữ bí mật hay chết tất cả rồi. Pháo địch hôm nay chuyển làn bắn sang hướng khác, có lẽ ở đấy đang đánh nhau, tiếng trực thăng và máy bay phản lực gầm rú phía bên kia Tân Cảnh.
Bị thương khoảng 10 giờ, lúc này tôi mới thấy đói. Sống hay mái cũng phải chén để lấy sức chiến đấu, tôi lấy nắm cơm của mình ra ăn. Càng ngày hai đùi càng tê dại, nếu ngồi xuống thì không thể đứng lên được, máu ra ướt hết vòng băng.
 Ba giờ chiều, có tiếng chân người phía sau, tôi ngoái lại- Tiến dẫn một đoàn nửa lạ, nửa quen nhớn nhác bò lên dốc. Tôi huýt sáo, họ ào lại phía tôi: Ðịch ở hướng nào? Gần đây không?Thương binh của ta đâu..
-Hậu hả, bị vào đâu? Có nặng lắm không? Ðưa tao cõng!
Khối cùng nhập ngũ với tôi-(Quê Sơn Dương-Lâm Thao-PT) thuộc đơn vị công binh đi trước đào hầm cho chỉ huy sở. Dìu tôi lên khỏi hầm, Khối túm luôn lấy chân tôi: Ây đau, không co được chân đâu, tao ôm cổ, để thẳng chân mới được!
Nhưng xuống dốc thì Khối đi trước tôi phía sau, chân chạm xuống đất đau nhói lên tận tim. Thôi! mày lấy dao găm phát thành đường để tao trườn xuống! Tôi lê đít vừa trượt, vừa lăn trên sườn dốc hàng trăm mét cho đến khi lọt xuống lòng khe.
Cõng thì chân vướng vào đá, đau điếng. Tôi bảo Khối chặt cho một chiếc gậy, trong người cảm thấy vẫn khoẻ mà chân thì bất lực, muốn bước đi mà không thể lê chân được.
Người ta cáng thương binh ngang qua tôi, Quỳnh và anh Thụ đã chết, Lành vẫn còn thở nghe đâu liệt cả chân và tay, cáng ra tận ngoài Bắc. (Không biết bây giờ như thế nào)
 Thấy tôi lê không được chân, Lưu-Văn-Tắc người tiểu đội trưởng khung huấn luyện chúng tôi ở Bắc Thái quay lại cõng tôi về đội phẫu. (Anh đã hy sinh ở mặt trận này)
 Tối hôm ấy, đơn vị vận tải vào cáng tôi quay ra. Pháo dịch bắn vo vo qua đầu rồi nổ phía con đường mà xắp đi qua. Nằm trên võng, nhìn xuống thị trấn Tân Cảnh sáng rực ánh đèn mà tôi thấy tiếc nuối, thế là hết, không được xuống đồng bằng rồi, liệu có còn dịp nào về thành phố không đây!
Chiều 15 tháng 4 năm 1972 tôi về đến ÐT- 3 (Ðiều trị 3). Ðội phẫu nằm trong một khu rừng già cách trận địa gần một ngày đường. Các lán trại nằm xung quanh sừơn dốc, hầm thùng, phên nứa đan làm xạp nằm, mái lợp sơ sài bằng cỏ tranh.
Có lẽ chúng tôi là lớp thương binh xông non trại, lác đác vài người bị thương trong các trận đánh vòng ngoài Tân Cảnh. Bác sỹ khám vết thương của tôi và hẹn mai xẽ mổ, hôm nay phải giải quyết mấy ca thương binh nặng hơn.
Sáng hôm sau một bác sỹ tìm đến hầm tôi, anh quê ở (Cẩm Khê - Phú Thọ) mới tốt nghiệp y khoa và bổ xung vào chiến trường Tây Nguyên. Thấy bệnh án thương binh quê Phú Thọ anh đến hỏi thăm. Tôi sốt ruột:- Em bao giờ thì được mổ? Anh cười: Bây giờ tớ xẽ mổ cho cậu, nghỉ một tý tớ cõng lên hầm phẫu!
 Hầm phẫu được đào sâu trong sườn núi, cửa hầm làm thoai thoải để cáng thương binh lên xuống. Trần hầm che tăng, xung quanh tường hầm vách đất chẳng có vải trắng quân y che chắn như tôi hằng tưởng. Bàn mổ khung bằng nứa, mặt bàn bằng thanh nứa đan nong mốt trải tấm vải nhựa lên trên, bốn cột bằng tre chôn chắc chắn xuống nền hầm.
Tôi nằm ngửa tênh hênh giữa bàn, hai y sỹ cũ của ÐT từng mổ rất nhiều chỉ đạo kỹ thuật, một y tá vô trùng phục vụ và người cầm dao là anh bác sỹ mới ra trường. Thấy họ bảo nhau gây tê, sâu tý nữa, khoét bên nọ, thông bên kia, máu chảy ra khỏi vùng gây tê tôi lại thấy nó nóng hôi hổi. Kéo cắt thịt cứ sần sật, nghe rõ mồn một, thỉnh thoảng lại nhói lên. Họ bảo nhau lấy cây thăm xoáy sâu vào trong đùi tìm mảnh đạn. Tôi thấy giật thót, tê dại trong đùi và kêu to. Anh bác sỹ bảo: Không thấy mảnh đâu, thôi kệ nó sau này mỡ nó xẽ bao lại, ra bắc mổ sau!
 Tôi được cáng về hầm, suốt đêm hai đùi đau ê ẩm không sao ngủ được. Sáng hôm sau tôi được đoàn vận tải của dân gùi gạo cho bộ đội và cáng ra ngoài. Anh bác sỹ cùng quê bảo: Ðợt thương binh này phải chuyển ngay về viện B 80 tỉnh đội Kon Tum điều trị. ở đây vài hôm nữa là ùn tắc thương binh, không có chỗ nằm đâu!
Tốp cáng tôi có bốn người, hai đàn ông trung niên và hai cô gái dân tộc Thượng, thôi thì mặc kệ họ, muốn đưa đi đâu thì đi. Tôi cứ nhắm mắt chùm chăn kín mặt ngủ khật khưỡng trên võng. Lên dốc rồi xuống dốc, sang đông rồi về tây, cứ hai người đàn ông cáng thì tiếng chân chắc nịch, đi rất đều và nhanh hơn hẳn. Ðổi cho hai cô gái cáng thì võng lắc bên này, đu sang bên kia, nhún nha nhún nhẩy. Có khi đang lên dốc, họ trêu nhau hoặc tán cái gì đó bằng tiếng dân tộc thế là cười như nắc nẻ, may mà hai người đàn ông chạy lại đỡ kịp nếu không thì họ đã quăng tôi xuống suối.
 Con đường xe ngựa như dài mãi ra, chưa thấy có dấu hiệu gì là đến viện cả. Quá trưa, cái nắng đầu mùa nung xuống mặt đường, chăn và võng nóng rát. Các vết thương tấy mủ thối khẳn, thịt của mình mà không tài nào thở được, tôi kéo chăn xuống cổ và lấy áo che lên mặt cho đỡ nắng và thối. Ðoàn người có lẽ thấm mệt, không thấy ai nói gì cả chỉ thấy những bước chân nén xuống mặt đường.
�� Một đoàn cán bộ đi công tác ngang qua, thấy đoàn thương binh chủ lực. Họ mời vào ven đường, một chị có gương mặt phúc hậu nắm lấy võng của tôi:
� - Em bị thương vào đâu?Ta đánh đến Tân Cảnh chưa mà bị thương nhiều thế hả em! Qua chị tôi mới biết đây là đoàn cán bộ hội phụ nữ tỉnh Kon Tum đi công tác, chị lấy trong gùi ra một túi bánh Dầy và phát cho mỗi người thương binh hai chiếc. Tôi cầm một, chiếc còn lại đưa cho hai cô gái. Họ nhìn tôi cười và chia nhau ăn ngon lành.
� Càng đi sâu vào hậu cứ, núi cứ cao hơn và rừng càng ngút ngàn, tiếng máy bay ầm ì có vẻ chiến tranh ở xa lắm. Xẩm tối, tôi thấy họ rẽ ầm ầm vào khu rừng bên cạnh.
- Cái bệnh viện của tỉnh còn xa lắm mà! Mình phải chốt lại ở đây thôi!
� Mặc cho chiến sỹ quân y đi hộ tống thương binh nói những gì, họ cứ kẻ lấy nước, người chùi gô dúm củi vào và đốt lửa. Bí quá anh ta nói: Nếu đồng bào không đi nữa thì thương binh của đội nào đội ấy cho ăn, chương trình hôm nay phải đến bệnh viện nên không đem theo gạo. Ðang ngồi vắt vẻo trên võng chờ cơm bỗnh huỵch một cái, tôi ngã lăn xuống đất, lộn hai vòng và nằm ngửa dưới tà luy đường, đau điếng. Hai người đàn ông chạy lại đỡ tôi dậy, hai cô gái đang chụm lửa nấu cơm đứng ngây ra. Dây võng tự nhiên tuột khỏi cáng, may mà ở ven rừng chứ đang khiêng nhau trên suối thì
 Khoảng 9 giờ sáng hôm sau chúng tôi đến bệnh viện
----------------------------
Ngày 12 tháng 07 năm 2007
Hoàng Kim Hậu
ÐT: 0210.3785.060
DD: 0934.441.239
----------------------------